NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ ĐẠI DƯƠNG

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ ĐẠI DƯƠNG
BBC- Human Planet Oceans – Into the Blue Ep 01 [FULL] http://www.youtube.com/watch?v=c8jlazU0rkM
Life of Oceans. Deep mysteries / 720p http://www.youtube.com/watch?v=bik_H3tTbnY
11. The Living Planet – The Open Ocean http://www.youtube.com/watch?v=d7WtduFycDY
Very Relaxing 3 Hour Video of Ocean Waves http://www.youtube.com/watch?v=zmPzbZVUp3g

Tình Yêu Chôn Dấu Cuối Ngàn Tìm Quên . Nhạc : Nguyễn Hữu Tân . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Thực Hiện PPS và YouTube: Trần Minh Hiền

http://www.youtube.com/watch?v=OHoaKQujGjE
Khai Bút 2013: Nhạc LMST2013, Lời Thơ: Trần Minh Hiền, Thực Hiện PPS và Youtube: Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=zuNnkdE_Wlk
Cho Sinh Nhật Con Trai Ba Tuổi 26 Tháng 8
Nhạc LMST2012 . Lời Thơ : Trần Minh Hiền. Thực Hiện PPS YouTube : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=J2Cj34mNGAc&feature=plcp
Vu Lan Huyền Diệu Đê Đầu Mẹ Cha 
Nhạc : LMST2012, Lời Thơ : Trần Minh Hiền 
Thực Hiện PPS YouTube : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=a-m4JEQcO1M&feature=youtu.be
Thắp Ân Tình Tàn Phai
Nhạc : LMST. Lời Thơ : Trần Minh Hiền . Hòa Âm : Cao Ngọc Dũng . Ca sĩ hát : Trung Hiếu . Thực Hiện PPS Youtube : Trần Minh Hiền .
http://youtu.be/1jSWcqOFVrQ
Cho Sinh Nhật Em 3 Tháng 4 
Nhạc : LMST2012, Lời Thơ : Trần Minh Hiền , Hòa Âm : Cao Ngọc Dũng, Ca Sĩ hát : Trung Hiếu , Thực Hiện PPS Video YouTube : Trần Minh Hiền 
http://youtu.be/9ftBuD9DBOE
Biết Chăng Em Hoa Chỉ Thắm Một Thời
Nhạc : LMST2012 . Lời Thơ : Trần Minh Hiền . Hòa Âm : Cao Ngọc Dũng . Ca Sĩ hát : Trung Hiếu . Thực Hiện PPS Video : Trần Minh Hiền .http://youtu.be/ot8bP950McE
Mẹ Hiền Là Nguồn Thơ. Nhạc : LMST2012, Thơ : Trần Minh Hiền. Thực Hiện Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=aFI6OTJSHEs&feature=youtu.be
Cha Là Mùa Xuân Xanh Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=1aK5FNQItqA&feature=youtu.be
Mẹ Là Nguồn NƯớc Dòng Sông Nhạc Nguyễn Hữu Tân Lời Thơ : Trần Minh Hiền , Hát Mẫu Nguyễn Hữu Tân Thực Hiện : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=aJkDf11tEzo&feature=plcp
Viết Bài Thơ Cho Mẹ Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=lzvVaR6EKjo&feature=plcp
Vong Thân THời Vị Lai Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=vyMEdzjzyjU&feature=plcp
Anh MUốn Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=sKqo8oV54lo&feature=plcp
Thắp Ân Tình Tàn Phai Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=EKu1N4hwN7I&feature=plcp
Biết Chăng Em Hoa Chỉ Thắm Một Thời Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=mVDQmDzKw3A&feature=plcp
Cho Sinh Nhật Em 3 Tháng 4 Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=nyCBlVI3Hbc&feature=plcp
Cho mai Vàng TRọn Năm Nhạc LMST2012 Lời Thơ : Trần Minh Hiền Thực Hiện : Trần Minh Hiền 
http://www.youtube.com/watch?v=ymDNDFSjRS4&feature=plcp

Johnny Hallyday – l’Attente [Clip Officiel] http://www.youtube.com/watch?v=Bi-YKafuRKg
AURYN – ¿Cuando te volveré a ver? (BSO Rompe Ralph) http://www.youtube.com/watch?v=AkfCvikf0tE
Max Herre + Cro – Fühlt sich wie Fliegen an [Auf den Dächern Festival] http://www.youtube.com/watch?v=MEeGsc56HwU
Ho imparato a sognare – Fiorella Mannoia http://www.youtube.com/watch?v=3JPlmwujFC8
Hài kịch: Quang Minh & Hồng Đào (dvd chọn bộ 3 videos) http://www.youtube.com/watch?v=mSVlb–9R58
66 Câu Phật Học Làm Chấn Động Thiền Ngữ Thế Giới – Chùa Bát Nhã Bình Thạnh
Triệu Con Tim (Million Hearts) – Nhạc sĩ Trúc Hồ http://www.youtube.com/watch?v=X75q92uM_1k
10-29-2012 Trieu Con Tim Mot Tieng Noi Million Hearts N One Voice http://www.youtube.com/watch?v=4R_xirNHVM8

Sunset in Mid-Ocean
 
NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ ĐẠI DƯƠNG
trần minh hiền orlando ngày 16 tháng 1 năm 2013
Trong thế giới của chúng ta đại dương, biển đóng 1 vai trò rất quan trọng . Biển chiếm 70% Trái Đất và nuôi sống con người bằng thủy hải sản, nước, không khí và nhiều thứ khác cho con người . Nếu không có đại dương con người không thể nào tồn tại được . Mời các bạn hãy tìm hiểu những điều lý thú về đại dương .
***
Chúng ta thường bị lầm lẫn về biển và đại dương . Về Đại Dương thì chúng ta có 5 đại dương lớn theo thứ tự : Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương và Nam đại Dương nhưng chúng ta có rất nhiều biển 
Danh sách các biển theo diện tích bề mặt
 
STT tên vùng nước Diện tích bề mặt (dặm vuông) Diện tích bề mặt (km vuông)
1 Biển Philippine 2,000,000 5,177,762
2 Biển Coral 1,850,000 4,791,000
3 Biển Ả Rập 1,491,130 3,862,000
4 Biển Đông 1,351,936 3,500,000
5 Biển Weddell 1,081,548 2,800,000
6 Biển Caribe 1,063,000 2,754,000
7 Địa Trung Hải 965,000 2,500,000
8 Biển Tasman 900,000 2,330,000
9 Bering Sea 873,000 2,260,100
10 Vịnh Bengal 838,970 2,172,000
Thái Bình Dương
 
Biển Arafura
Biển Banda
Biển Bering
Biển Bismarck
Biển Bột Hải
Biển Bohol (còn được gọi là biển Mindanao)
Biển Camotes
Biển Celebes
Biển Ceram
Biển Coral
Biển Đông
Biển Flores
Biển Halmahera
Biển Java
Biển Koro
Biển Molucca
Biển Nhật Bản
Biển nội địa Seto
Biển Okhotsk
Biển Philippines
Biển Savu
Biển Sibuyan
Biển Solomon
Biển Sulu
Biển Tasman
Biển Visayas
Đông Hải
Hoàng Hải
Vịnh Alaska
Vịnh Bắc Bộ.
Vịnh California (còn được gọi là biển Cortés)
Vịnh Carpentaria
Vịnh Hạ Long.
Vịnh Thái Lan
***
Đại Tây Dương
 
Biển Adriatic
Biển Aegea
Biển Azov
Biển Alboran
Biển Argentine
Biển Baltic
Biển Bắc
Biển Bothnia
Biển Caribe
Biển Celtic
Biển Crete
Biển Đen
Biển Hebrides
Biển Ionia
Biển Ireland
Biển Labrador
Biển Ligure
Biển Manche
Biển Marmara
Biển Mirtoon
Biển Na Uy
Biển Sargasso
Biển Thrace
Biển Tyrrhenus
Biển Wadden
Địa Trung Hải
Eo biển Davis
Eo biển Đan Mạch
Vịnh Biscay
Vịnh Bothnia
Vịnh Campeche
Vịnh Chesapeake
Vịnh Fundy
Vịnh Guinea
Vịnh Mexico
Vịnh Phần Lan
Vịnh Sidra
Vịnh Saint Lawrence
Vịnh Venezuela
***
Ấn Độ Dương
 
Biển Andaman
Biển Ả Rập
Biển Đỏ
Biển Timor
Vịnh Aden
Vịnh Oman
Vịnh Ba Tư
Vịnh Bengal
Eo biển Mozambique
***
Bắc Băng Dương
 
Biển Barents
Biển Beaufort
Biển Bering
Biển Chukchi
Biển Đông Siberi
Biển Greenland
Biển Hoàng tử Gustav Adolf
Biển Kara
Biển Laptev
Biển Lincoln
Biển Pechora
Biển Trắng
Eo biển Kara
Vịnh Amundsen
Vịnh Baffin
Vịnh Hudson
Vịnh James
***
Nam Đại Dương
 
Biển Amundsen
Biển Bellingshausen
Biển Davis
Vịnh Đại Úc
Biển Mawson
Biển Ross
Biển Scotia
Vịnh Spencer
Biển Weddell
Eo biển Bass
Vịnh Saint Vincent
Các biển kín
Biển Aral
Biển Caspia
Biển Chết
Biển Salton
Chott Melrhir
Hồ Great Salt
Hồ Balkhash
Hồ Chad
Hồ Chilwa
Hồ Pyramid
Hồ Turkana
Hồ Thanh Hải
Hồ Van
Issyk Kul
Namtso
Ngũ Đại Hồ của Bắc Mỹ (đôi khi được coi là biển nội địa)
Tonle Sap
***
Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển Chết. Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay biển Hồ ở Campuchia. Thuật ngữ này được sử dụng trong đời sống thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng nước của đại dương nói chung.
Nước biển chứa các chất muối, khí ( oxi, nito, cacbon …) và chất hữu cơ có nguồn gốc từ động vật, thực vật
Trung bình mỗi kg nước biển chứa 35 g muối khoáng trong đó 77,8% là muối natri clorua tức muối ăn được
Độ muối trung bình của nước biển toàn thế giới là 3,5%
Biển Đỏ độ muối là 4,3%
Dọc Xích đạo độ muối là 3,45%
Vùng chí tuyến độ muối 3,68%
Gần hai cực độ muối là 3,4%
Biển Ban-tich độ muối là 0,35%
Nhiệt độ nước biển thay đổi . Có nhiều nguyên nhân :
Khi càng xuống sâu xuống đáy biển nhiệt độ giảm, càng sâu càng lạnh
Tùy theo mùa trong năm, mùa hè nhiệt độ cao, mùa đông biển lạnh
Từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao ( từ Xích đạo về cực )
Ảnh hưởng các dòng biển nóng và lạnh
Biển là nguồn cung cấp hơi nước để tạo ra mưa cho khí quyển . Có mưa mà duy trì sự sống cho các sinh vật trên đất liền
Biển là kho báu cho ngành hải sản, ngành sản xuất muối, du lịch biển . Hiện nay biển có 160000 loài động vật và 10000 loài thực vật
Biển còn chứa vô số có mỏ dầu ở dưới đáy đại dương . Trữ lượng dầu mỏ 21 tỉ tấn, khí tự nhiên 14 nghìn tỉ m3
Rất nhiều mỏ nằm ở dưới đát đại dương đã được con người khai thác từ lâu như sắt , lưu huỳnh , đồng , phốt pho …
Ngoài ra biển chứa một lượng lớn các nguồi tài nguyên hóa học với trên 70 nguyên tố hóa học khác nhau : Natri , Clo , Kali , Nito … Không chỉ có biển mà thủy triều là nguồn năng lượng vô tận của nhiều quốc gia trên thế giới . Nhà máy thủy triều đầu tiên ở cửa sông Răng-xơ ( Pháp ) năm 1967 công suất là 240000 kW . Nhiệt độ của nước biển chệnh lệch rất lớn tạo ra 1 nguồn thủy nhiệt điện vô cùng to lớn ; dựa vào nguyên lí đó mà người ta xây dựng những nhà máy thủy nhiệt . NHà máy thủy nhiệt đầu tiên đang hoạt động ở A-bit-gian ( Cốt Đi-voa ) với công suất 14000 kW
Vận tải đường biển xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế, là chiếm lược của nền kinh tế của mỗi quốc gia . Vận tải biển chiếm 3/4 khối lượng hàng hóa trao đổi trên thế giới
***
Đại dương là một vùng lớn chứa nước mặn tạo thành thành phần cơ bản của thủy quyển. Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu kilômét vuông) được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành một vài đại dương chủ chốt và một số các biển nhỏ. Trên một nửa diện tích khu vực này có độ sâu trên 3.000 mét (9.800 ft). Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%) và gần như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực) tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới). Nhiệt độ nước bề mặt ở ngoài khơi là 29 °C (84 °F) ở vùng ven xích đạo xuống đến 0 °C (32 °F) ở các vùng địa cực.
Mặc dù nói chung được công nhận như là các đại dương ‘tách biệt’, nhưng các vùng nước mặn này tạo thành một khối nước nối liền với nhau trên toàn cầu, thường được gọi chung là Đại dương thế giới hay đại dương toàn cầu. Khái niệm về đại dương toàn cầu như là một khối nước liên tục với sự trao đổi tương đối tự do giữa các bộ phận của nó có tầm quan trọng nền tảng cho hải dương học Các phần đại dương chính được định nghĩa một phần dựa vào các châu lục, các quần đảo khác nhau cùng các tiêu chí khác: các phần này là (theo trật tự giảm dần của diện tích) Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương (đôi khi được phân chia và tạo thành phần phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương) và Bắc Băng Dương (đôi khi được coi là một biển của Đại Tây Dương). Thái Bình Dương và Đại Tây Dương cũng có thể phân chia tiếp bởi đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam. Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác. Cũng tồn tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương thế giới, như biển Aral, Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi như là các ‘biển’, nhưng thực ra chúng là các hồ nước mặn. Có 5 đại dương trên thế giới, trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất, thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương còn nhỏ và cạn nhất là Bắc Băng Dương.
Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác động của thuỷ triều, gây ra bởi lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu do tác dụng của gió. Các dòng bù trừ phát sinh do sự thiếu hụt của nước. Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít sông suối đổ vào, do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn. Nước ở dưới sâu chảy từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải để bù vào chỗ thiếu hụt đó.
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất. Sự sống trong lòng đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển của động, thực vật lên trên đất liền. Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển. Các sinh vật như tảo, rong, rêu sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá vì thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều. Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu sáng, vùng thiếu sáng 
Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ. Lớp vỏ đại dương dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm tích mỏng che phủ trên lớp bazan núi lửa mỏng đã đông cứng. Lớp bazan này che phủ lớp peridotit thuộc mặt ngoài của lớp phủ Trái Đất tại những nơi không có châu lục nào. Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3 “đại dương”: Đại dương thế giới, biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 “đại dương” sau được hình thành do va chạm của mảng Cimmeria với Laurasia. Địa Trung Hải có thể coi là một “đại dương” gần như riêng biệt, nối thông với Đại dương thế giới qua eo biển Gibraltar và trên thực tế đã vài lần trong vài triệu năm trước chuyển động của châu Phi đã đóng kín eo biển này hoàn toàn. Biển Đen thông với Địa Trung Hải qua Bosporus, nhưng là do tác động của một kênh tự nhiên cắt qua lớp đá lục địa vào khoảng 7.000 năm trước, chứ không phải một mảng của đáy biển như eo biển Gibraltar.
Diện tích của Đại dương thế giới là khoảng 361 triệu kilômét vuông (139 triệu dặm vuông), dung tích của nó khoảng 1,3 tỷ kilômét khối (310 triệu dặm khối), và độ sâu trung bình khoảng 3.790 mét (12.430 ft). Gần một nửa nước của đại dương thế giới nằm sâu dưới 3.000 m (9.800 ft). Sự mở rộng khổng lồ của đại dương sâu (những gì dưới độ sâu 200m) che phủ khoảng 66% bề mặt Trái Đất. Nó không bao gồm các biển không nối với Đại dương thế giới, chẳng hạn như biển Caspi.
Tổng khối lượng của thủy quyển khoảng 1,4 × 1021 kilôgam, chiếm khoảng 0,023% khối lượng Trái Đất. Dưới 2% là nước ngọt; phần còn lại là nước mặn, chủ yếu trong các đại dương.
Một sai lầm phổ biến cho rằng nước biển có màu xanh lam chủ yếu là do bầu trời có màu xanh lam. Trên thực tế, nước có màu xanh lam rất nhạt chỉ khi được nhìn thấy với một thể tích lớn. Trong khi sự phản chiếu bầu trời có đóng góp vào biểu hiện màu xanh lam của bề mặt đại dương, nhưng nó không phải là nguyên nhân chính Nguyên nhân chủ yếu là sự hấp thụ của các hạt nhân các phân tử nước đối với các photon màu đỏ từ ánh sáng chiếu tới, ví dụ đã biết duy nhất về màu sắc trong tự nhiên tạo ra từ động lực học dao động chứ không phải động lực học điện tử.
Nhiều thủy thủ và các nhà hàng hải chuyên nghiệp thông báo rằng đại dương thường bức xạ ánh sáng nhìn thấy hay phát quang, có thể trải dài hàng dặm vào ban đêm. Năm 2005, các nhà khoa học đã thông báo điều này lần đầu tiên, chứng cứ bằng hình ảnh cũng đã thu được đối với sự phát sáng này. Nó có thể là do phát quang sinh học.
Đi lại trên bề mặt đại dương bằng tàu thuyền đã diễn ra từ thời tiền sử, nhưng chỉ ngày nay thì việc đi lại ngầm dưới mặt nước biển một cách rộng khắp mới có thể trở thành hiện thực.
Điểm sâu nhất trong đại dương nằm ở phía nam rãnh Mariana trong Thái Bình Dương, gần quần đảo Bắc Mariana. Nó có độ sâu tối đa là 10.923 m (35.838 ft). Nó được khảo sát chi tiết lần đầu tiên năm 1951 bởi tàu “Challenger II” của hải quân Anh và điểm sâu nhất này được đặt tên theo tên tàu này là “Challenger Deep”. Năm 1960, tàu thăm dò biển sâu Trieste đã xuống thành công tới đáy của rãnh, được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn gồm 2 người.
Phần lớn đáy các đại dương vẫn chưa được thám hiểm và lập bản đồ. Hình ảnh toàn cầu của nhiều đặc trưng ngầm lớn hơn 10 km (6 dặm) được tạo ra năm 1995 dựa trên các méo mó hấp dẫn của bề mặt biển cận kề.
Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý và sinh học của các khu vực này. Vùng biển khơi bao gồm mọi khu vực chứa nước của biển cả (không bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ chiếu sáng. Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới độ sâu 200 m. Đây là khu vực trong đó sự quang hợp diễn ra phổ biến nhất và vì thế chứa sự đa dạng sinh học lớn nhất trong lòng đại dương. Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ phía trên (xem tuyết biển) hoặc tìm các nguồn chủ lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng miệng phun thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m). Phần biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là vùng biển khơi mặt (epipelagic). Phần biển khơi của vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng nối tiếp nhau theo chiều thẳng đứng. Vùng biển khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với ranh giới thấp nhất tại lớp dị nhiệt là 12 °C, trong đó tại khu vực nhiệt đới nói chung nó nằm ở độ sâu giữa 700 với 1.000 m. Dưới tầng này là vùng biển khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10 °C và 4 °C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với 2.000-4.000 m. Nằm dọc theo phần trên của vùng bình nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu thẳm (abyssalpelagic) với ranh giới dưới của nó nằm ở độ sâu khoảng 6.000 m. Vùng cuối cùng nằm tại các rãnh đại dương và được gọi chung là vùng biển khơi tăm tối (hadalpelagic). Nó nằm giữa độ sâu từ 6.000 m tới 10.000 m và là vùng sâu nhất của đại dương.
Cùng với các vùng biển khơi thiếu sáng còn có các vùng đáy thiếu sáng, chúng tương ứng với ba vùng biển khơi sâu nhất. Vùng đáy sâu che phủ sườn dốc lục địa và kéo dài xuống độ sâu khoảng 4.000 m. Vùng đáy sâu thẳm che phủ các bình nguyên sâu thẳm ở độ sâu 4.000 – 6.000 m. Cuối cùng là vùng đáy tăm tối tương ứng với vùng biển khơi tăm tối, tìm thấy ở các rãnh đại dương. Vùng biển khơi cũng có thể chia ra thành hai vùng con, là vùng ven bờ (neritic) và vùng đại dương. Vùng neritic bao gồm khối nước nằm ngay trên các thềm lục địa, trong khi vùng đại dương bao gồm toàn bộ vùng nước biển cả còn lại.
Ngược lại, vùng duyên hải bao phủ khu vực nằm giữa các mức thủy triều cao và thấp nhất, nó là khu vực chuyển tiếp giữa các điều kiện đại dương và đất liền. Nó cũng có thể gọi là vùng liên thủy triều do nó là khu vực trong đó mức thủy triều có ảnh hưởng mạnh tới các điều kiện của khu vực.
Một trong những dạng thời tiết gây ấn tượng nhất diễn ra trên các đại dương là các xoáy thuận nhiệt đới, bao gồm bão và áp thấp nhiệt đới. Các hải lưu có ảnh hưởng lớn tới khí hậu Trái Đất bằng cách chuyển dịch các luồng không khí nóng hay lạnh cũng như giáng thủy tới các vùng ven biển, nơi chúng có thể được đưa vào đất liền nhờ gió. Hải lưu vòng Nam Cực xoay quanh châu lục này, có ảnh hưởng tới khí hậu khu vực và nối liền các hải lưu trong các đại dương khác.
Các dạng sự sống trong lòng đại dương bao gồm (trong số các dạng khác):
Động vật đối xứng tỏa tròn như sứa và sứa lược
Các dạng cá voi như cá voi, cá heo và cá nhà táng.
Động vật chân đầu như bạch tuộc, mực.
Động vật giáp xác như cua, tôm hùm và tôm
Giun biển
Sinh vật phù du
Nhuyễn thể
Động vật da gai (đuôi rắn, sao biển, hải sâm, nhím biển)
Các đại dương là thiết yếu trong vận tải: phần lớn hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng tàu biển giữa các hải cảng trên thế giới. Các kênh vận tải quan trọng có đường thủy Saint Lawrence, kênh đào Panama, kênh đào Suez.
Các đại dương cũng là nguồn quan trọng cung cấp các sản phẩm có giá trị trong ngư nghiệp. Trong số này có tôm, cua, cá.
***
Đại dương cổ
 
 
Trôi dạt lục địa đã tái định hình thể cho các đại dương của Trái Đất, kết hợp và chia cắt các đại dương cổ để tạo ra các đại dương như hiện nay. Các đại dương cổ có:
Đại dương sông Bridge, đại dương nằm giữa quần đảo Insular cổ đại và Bắc Mỹ.
Đại dương Iapetus, đại dương ở Nam bán cầu nằm giữa Baltica và Avalonia.
Panthalassa, đại dương toàn cầu rộng lớn mênh mông, bao quanh siêu lục địa Pangaea.
Đại dương Rheic
Đại dương núi Slide, đại dương nằm giữa quần đảo Intermontane cổ đại và Bắc Mỹ.
Đại dương Tethys, đại dương nằm giữa các lục địa cổ Gondwana và Laurasia.
Đại dương Khanty, đại dương nằm giữa Baltica và Siberia.
Mirovia, đại dương bao quanh siêu lục địa Rodinia.
Đại dương Paleo-Tethys, đại dương nằm giữa Gondwana và địa hình Hunic.
Đại dương Proto-Tethys,
Đại dương Pan-Africa, đại dương bao quanh siêu lục địa Pannotia.
Superocean, đại dương bao quanh siêu lục địa toàn cầu.
Đại dương Ural, đại dương nằm giữa Siberi và Baltica.
***
Đại dương ngoài Trái Đất
 
Trái Đất là hành tinh duy nhất đã biết có nước lỏng trên bề mặt và có lẽ cũng là duy nhất trong hệ Mặt Trời. Tuy nhiên, nước lỏng được cho là tồn tại dưới bề mặt của các vệ tinh Galilei Europa và ít chắc chắn hơn là Callisto cùng Ganymede. Các mạch nước phun cũng đã được tìm thấy trên Enceladus, mặc dù chúng có thể không đòi hỏi phải có các khối nước lỏng. Các vệ tinh bị đóng băng khác có thể đã từng có các đại dương bên trong mà hiện nay đã bị đóng băng, chẳng hạn như Triton. Các hành tinh như sao Thiên Vương và sao Hải Vương có thể cũng chiếm hữu các đại dương lớn chứa nước lỏng phía dưới bầu khí quyển dầy của chúng, mặc dù cấu trúc nội tại của chúng hiện nay vẫn chưa được hiểu rõ.
Hiện tại còn nhiều tranh cãi về việc sao Hỏa đã từng có hay không có đại dương chứa nước tại bắc bán cầu của nó và về điều gì đã xảy ra đối với các đại dương này nếu như chúng đã từng tồn tại; các tìm kiếm gần đây của phi vụ Mars Exploration Rover chỉ ra rằng nó có một số lượng nước tồn tại trong thời gian dài ở ít nhất một vị trí nhưng phạm vi của nó lại chưa rõ.
Các nhà thiên văn học tin rằng sao Kim từng có nước lỏng và có lẽ có cả các đại dương trong lịch sử rất sớm của nó. Nếu chúng từng tồn tại, mọi dấu vết của chúng dường như đã bị làm tan biến trong quá trình tái tạo bề mặt của sao Kim.
Các hydrocacbon lỏng được cho là tồn tại trên bề mặt Titan, mặc dù chúng có lẽ chính xác hơn nên miêu tảnhư là các “hồ” thay vì các “đại dương”. Phi vụ tàu vũ trụ Cassini-Huygens ban đầu đã phát hiện ra chỉ những cái dường như là các đáy hồ và các lòng sông khô kiệt, gợi ý rằng Titan đã đánh mất các chất lỏng bề mặt mà nó có thể đã từng có. Chuyến bay gần đây sát Titan của Cassini đã chụp lại các bức ảnh radar gợi ý mạnh mẽ rằng các hồ hydrocacbon gần vùng cực của Titan, nơi nó lạnh hơn. Titan cũng được cho là có đại dương nước dưới mặt đất do sự phối trộn của băng và các hydrocacbon tạo ra lớp vỏ ngoài cùng của nó.
Ngoài hệ Mặt Trời, Gliese 581 c là hành tinh nằm ở khoảng cách hợp lý từ mặt trời của nó (sao lùn đỏ Gliese 581) để nước lỏng có thể tồn tại trên bề mặt hành tinh này. Do nó không đi ngang qua mặt trời của nó nên không có cách nào để biết là trên đó có nước hay không. HD 209458b có thể có hơi nước trong khí quyển của nó—điều này hiện nay còn gây tranh cãi lớn. Gliese 436 b được tin tưởng là có “băng nóng”. Không có hành tinh nào trong số hai hành tinh này đủ lạnh để nước lỏng có thể tồn tại—nhưng nếu các phân tử nước tồn tại tại đó thì chúng rất có thể cũng được tìm thấy trê các hành tinh ở nhiệt độ phù hợp
***
Nói tóm lại chúng ta đã khám phá nhiều điều lý thú về biển và đại dương . Hy vọng các bạn sẽ thích thú về bài viết .
trần minh hiền orlando ngày 16 tháng 1 năm 2013



OCEAN SUNSET
 

https://twitter.com/#!/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
http://http://my.opera.com/hientrankhanhdo/blog/my.opera.com/hientrankhanhdo/blog/
https://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes

 

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s