TÌM HIỂU CÁC BỆNH VỀ XƯƠNG

TÌM HIỂU CÁC BỆNH VỀ XƯƠNG

Bệnh Viêm Xương Khớp http://www.youtube.com/watch?v=U0DB39SFalU
Bệnh lao xương khớp – Nguyên nhân – Triệu chứng — Biến chứng – http://www.youtube.com/watch?v=mLPvDlbbUX8
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a
Dâng Mẹ Hiền
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Ca Sĩ : Duyên Quỳnh 
http://www.youtube.com/watch?v=hBlZpTnyI_M
Mẹ Diệu Hiền Bao La
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=1UHhQ9Frdus&feature=youtu.be
Tình Yêu Chôn Dấu Cuối Ngàn Tìm Quên . Nhạc : Nguyễn Hữu Tân . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Thực Hiện PPS và YouTube: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=OHoaKQujGjE

Martin Garrix – Animals (Official Video) http://www.youtube.com/watch?v=gCYcHz2k5x0
Sébastien Patoche – La Cartouche http://www.youtube.com/watch?v=k44KWyJFF6A 
ALEJANDRO SANZ ÉXITOS (24 baladas románticas) http://www.youtube.com/watch?v=YkpCEy_qWsg
Nicola Piovani e Giusy Ferreri – Canzone del mal di luna http://www.youtube.com/watch?v=_zTev_4JgrU
AriYm – Hikoukigumo 1973 http://www.youtube.com/watch?v=7yGm7ykcyHw
[MV/HD 4K] Yu Seong Eun (유성은) ft BaeChiGi (배치기) – Be OK ( http://www.youtube.com/watch?v=qzNQpysTpc0
One Direction – Best Song Ever http://www.youtube.com/watch?v=o_v9MY_FMcw
Sage The Gemini – Red Nose http://www.youtube.com/watch?v=-I-YY5p0uq8
Top 10 Piano Songs: Best Relaxing “Solo Piano” Music for Candlelig http://www.youtube.com/watch?v=sHSbEPC3hVM
Andre Rieu & 3 year old violinist, Akim Camara 2005 http://www.youtube.com/watch?v=JN2SQ4m7M04
Incredible 7-Year Old Child Violinist Brianna Kahane Performs “Csar http://www.youtube.com/watch?v=GEOZ31HeZT4
Jimmy Bruno No Nonsense Jazz Guitar http://www.youtube.com/watch?v=e7SY6aIfi6g
Romantic Saxophone Collection-Part 8 http://www.youtube.com/watch?v=wO9kpV8v7k0
Giọng Ca Phương Bình (Tân Cổ Giao Duyên) http://www.youtube.com/watch?v=XcR7lJ9zH5M
Hài Kịch: Khó http://www.youtube.com/watch?v=qebacTUjCiE

Amanda Hall, 9 years old, Ballet Don Quixote, Pembroke Ballet http://www.youtube.com/watch?v=J_OWs6mbvW4
Ballet Class Jumps Grande Allegro and Reverance, Milana Age 16 http://www.youtube.com/watch?v=T5vVLZ6oWiQ
2012 Ballet Exam – Primary http://www.youtube.com/watch?v=RdK_Y758PWY
CMM’s Pre-Primary RAD Excerpt http://www.youtube.com/watch?v=37k_b2IgeXE
Bringing Balanchine Back – New York City Ballet http://www.youtube.com/watch?v=zBAq5vY9waU
PARIS , FRANCE – WALKING TOUR – 2011 – HD 1080P http://www.youtube.com/watch?v=hWo-43ObCP8
Great Wall of China National Geograhic Documentary http://www.youtube.com/watch?v=9qGeXIjQ8KU
PHAO HOA GIAO THUA NHAM THIN 2012 ( HON CHONG-NHA trang http://www.youtube.com/watch?v=RFXHm8I1Zf8
DU LICH NGOAI CANH NHA TRANG, Hon chong, Nha Tho Nui, H http://www.youtube.com/watch?v=LplM-LhUCj8
loang xuong la gi, loãng xương

TÌM HIỂU CÁC BỆNH VỀ XƯƠNG
trần minh hiền orlando ngày 30 tháng 7 năm 2013
Trong các chứng bệnh, bệnh về xương thường bị coi thường nhưng cũng nguy hiểm vô cùng . Có nhiều chứng bệnh về xương: thoái hóa  xương, viêm xương khớp, lao xương, loãng xương, ung thư xương, thấp khớp …
***
BỆNH LOÃNG XƯƠNG
1. ĐẠI CƯƠNG
Khái niệm về bệnh loãng xương đã được nhà giải phẫu học J. Martin Lostein đề cập đến từ nửa đầu thế kỷ XVIII .
 
Loãng xương ngày nay đã trở thành vấn đề mang tính thời sự, được nhiều người quan tâm đến. Loãng xương thực chất chính là hậu quả của sự rối loạn trong cân bằng tạo và hủy xương, trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Hậu quả nặng nhất của loãng xương là gãy xương. Tuổi thọ trung bình càng cao, số người mắc bệnh ngày càng nhiều.
 
Ở những người trên 60 tuổi có khoảng 20% phụ nữ, 10% nam giới bị loãng xương. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ gãy cổ xương đùi do loãng xương trên thế giới sẽ tăng từ 1,7 triệu người năm 1990 lên 6,3 triệu người vào năm 2050. Ở Thái Lan, tỷ lệ gãy cổ xương đùi ở nam giới trên 60 tuổi khoảng 99/100.000 dân (ở nữ là 202/100.000 dân).
 
Tại Mỹ, có khoảng 25 triệu người có mật độ xương thấp và 13 triệu người gãy xương do loãng xương. Hàng năm, nước Mỹ chi phí tới hơn 14 tỷ đô la cho điều trị loãng xương và gãy xương .
Tại Pháp, số phụ nữ bị loãng xương sau mãn kinh khoảng 4,5 triệu người, nam giới khoảng 1,4 triệu người, trong đó 10% bị tàn phế với 3 – 5 nghìn trường hợp gãy cổ xương đùi hàng năm, chi phí nằm viện lên đến 1,350 tỷ Francs.
 
Loãng xương thường diễn biến âm thầm, không có triệu chứng gì đặc biệt, cho nên rất khó phát hiện. Thường chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã nặng hoặc có biến chứng gãy xương. Lúc này việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị hậu quả do loãng xương gây ra, việc điều trị cũng chỉ góp phần làm giảm sự phát triển của bệnh. Do vậy, việc phát hiện sớm tình trạng loãng xương và dự phòng loãng xương ở những bệnh nhân có nguy cơ cao là điều hết sức quan trọng.
 
Để đánh giá độ loãng xương, người ta dựa vào nhiều phương pháp đo mật độ xương như siêu âm định lượng, đo hấp thụ tia photon đơn và kép, đo hấp thụ tia X năng lượng kép… Trong đó, đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép là một phương pháp tiên tiến, đơn giản và có giá trị chẩn đoán cao, được áp dụng rộng rãi trên thế giới.
 
2. ĐỊNH NGHĨA LOÃNG XƯƠNG
– Định nghĩa của WHO 1993 (World Health Organization 1993) : loãng xương là một bệnh lý của xương, được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương, dẫn đến tăng tính dễ gãy của xương, tức là có nguy cơ gãy xương. Do vậy, cần đo mật độ xương (BMD) để đánh giá nguy cơ gãy xương.
 
Mật độ xương (BMD) theo chỉ số T (T-score) của một cá thể là chỉ số BMD của cá thể đó so với BMD của nhóm người trẻ tuổi (thường là nhóm khỏe mạnh, có khối lượng xương đỉnh, cùng chủng tộc) làm chứng. Trên cơ sở đó, có các giá trị của BMD như sau:
 
+ BMD bình thường khi T-score > – 1: tức là BMD của đối tượng > – 1 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi.
+ Giảm mật độ xương khi – 2,5 ≤ T-score ≤ – 1: tức là BMD từ – 2,5 đến – 1 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi.
+ Loãng xương khi T-score < 2,5: tức là BMD dưới – 2,5 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi, ở bất kỳ vị trí nào của xương.
+ Loãng xương nặng khi T-score < 2,5 và kèm theo gãy xương. Vị trí gãy hay gặp là cổ xương đùi, đốt sống cổ, đầu dưới xương cẳng tay.
 
– Định nghĩa của WHO 2001: Loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi cấu trúc của xương, chu chuyển xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy, tính chất của các chất cơ bản của xương. Trong đó, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng.
 
Chúng ta đều biết, quá trình hủy và tạo xương luôn liên tục diễn ra trong cơ thể, nếu quá trình này cân bằng thì mật độ xương sẽ bình thường. Nếu quá trình hủy xương lớn hơn tạo xương sẽ dẫn đến loãng xương. Tuy nhiên, nếu quá trình hủy và tạo xương cân bằng nhưng diễn ra quá nhanh (chu chuyển xương nhanh) thì gây ra giảm sức mạnh của xương. Do vậy, sức mạnh của xương là một thông số rất quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả mật độ xương. Các thông số về sức mạnh của xương hiện đang được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tìm ra các chỉ số có thể ứng dụng trên lâm sàng. Hiên nay, mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá sớm nhất tình trạng loãng xương và dự đoán gãy xương trên lâm sàng.
***
Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi
Bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi (NCT) tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây cản trở nhiều trong sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày.
Càng lớn tuổi, thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay càng dễ phát triển. Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay là một bệnh khớp gặp ở cả nam lẫn nữ nhưng nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn.
 
Nguyên nhân 
 
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là NCT, trong đó nữ giới chiếm tỉ lệ 2/3 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay.
 
Tuổi đời càng càng cao, bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hóa các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hoóc-môn sinh dục. Sự thoái hóa khớp là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt ngày càng gia tăng, sưc chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hàng ngày, liên tục lên khớp. Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì, gia tăng trọng lượng… càng dễ mắc bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng.  Sự thoái hóa khớp cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn. Người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải va khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hóa hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hóa thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hóa, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, hiện tượng thoái hóa khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỉ lệ cao hơn các khớp khác.
 
Ngoài ra, cũng nên đề cập đến hiện tượng thoái hóa khớp do sự thiếu hụt canxi. Tỉ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh.
 
Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh  rối loạn chuyển hóa như bệnh đái tháo đường. Đối với NCT còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.
 
Triệu chứng
 
Thường bệnh được biểu hiện sau khi nghỉ ngơi một thời gian dài như sau ngủ dậy hoặc sau khi ngủ buổi trưa. Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp.
 
Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Đau chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian kéo dài khoảng từ 15 – 30 phút, có khi lâu hơn, tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thương khớp. Các khớp bị đau đôi khi còn bị sưng nhẹ.
 
Biểu hiện cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều. Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa, biểu hiện như khó cứ động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ khó thực hiên các thao tác trong sinh hoạt hàng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật)… Các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.
 
Để chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp X-quang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay. Kỹ thuật chụp X-quang tuy đơn giản nhưng giúp cho bác sĩ khám bệnh chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Trên các phim chụp bàn tay, ngón tay bị thoái hóa khớp có thể thấy hiện tượng mọc gai xương, hẹp các khe khớp, mất vôi, hình dải, khuyết xương, xói mòn hoặc khuyết xương hoặc biến dạng khớp…
 
Nếu có điều kiện cũng nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng, CRP (C – Reactive Protein), xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị thoái hóa khớp nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp. Vì vậy, sau khi được chẩn đoán là thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ khám bệnh, nhất là các bác sĩ chuyên khoa xương khớp.
 
Phòng bệnh như thế nào?
 
Những đối tượng có nguy cơ cao bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng, nhọc. Khi làm việc với đôi tay của mình, nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi không làm việc liên tục nhiều giờ liền. Trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong lao động nếu có máy móc thay thế cho bàn tay, nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt…).
 
Sau mỗi  buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay. Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý, ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hóa hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.
***
Ung thư xương chẩn đoán và điều trị
 
Bệnh ung thư xương (sarcom xương) chủ yếu gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi. Trong đó ¾ bệnh nhân trong độ tuổi từ 10-30. Nam giới hay bị hơn nữ với tỉ lệ 3:2.
 
Bệnh ung thư xương (sarcom xương) chủ yếu gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi. Trong đó ¾ bệnh nhân trong độ tuổi từ 10-30. Nam giới hay bị hơn nữ với tỉ lệ 3:2. Tổn thương gặp chủ yếu tại các xương dài như đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày, vùng xung quanh khớp gối hoặc đầu trên xương cánh tay, xương trụ…Hiếm gặp ở các xương dẹt, ngoài ra còn gặp ung thư xương chậu, chỏm xương cánh tay.
 
Sarcom xương là ung thư xương ác tính đứng hàng thứ hai, sau u tương bào tủy xương (bệnh Kahler), chiếm tỉ lệ 20% các loại u xương ác tính.
 
1. Nguyên nhân
Nguyên nhân ung thư xương chưa rõ, sau đây là một số yếu tố thuận lợi làm bệnh tiến triển.
 
Bệnh lành tính của xương: có thể chuyển hóa thành ung thư – u tế bào khổng lồ, các chồi xương.
 
Tia xạ: một số trường hợp dùng tia xạ thấy ung thư tiến triển tại xương.
 
Chấn thương mạn tính: tỉ lệ ung thư xương cao hơn ở những bệnh nhân có chấn thương tại đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày do tai nạn. Những chấn thương mạn tính có thể kích thích tạo nên ung thư.
 
Rối loạn gen ức chế ung thư p53.
 
Yếu tố di truyền: còn đang được nghiên cứu.
 
 
Một bệnh nhân ung thư xương ở Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TPHCM
 
 
 
Sinh bệnh lý
 
 
Ung thư xương thường gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi, lúc xương và sụn trưởng thành. U phát triển dưới vỏ xương hay ở trung tâm xương, dẫn đến hủy hoại xương khu trú. Tất cả các vùng của xương: xương xốp, khoang tủy xương, vỏ xương, màng ngoài xương và mô xung quanh đều bị tổn thương, đặc biệt lắng đọng màng ngoài xương. Các nguyên bào xương ác tính được đặc biệt hóa từ chất đệm u và làm phát triển nên chất dạng xương của u.
 
 
Vị trí u
 
 
Sarcom xương có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí xương nào, nhưng trên 50% quan sát thấy trên các xương dài “gần đầu gối xa khủy tay”. Khoảng một nửa các trường hợp bị tổn thương ở đầu dưới xương đùi hay đầu trên xương chày, khiến cho vùng xung quanh khớp gối là vị trí hay gặp u nhất. Tuy nhiên sarcom xương khung chậu hay đầu trên xương đùi cũng thường gặp.
 
 
Triệu chứng lâm sàng
 
 
– Đau: tại vị trí u, thành từng đợt, tiến triển. Da trên vùng u âm, do tăng sinh mạch máu khối u. Có thể xuất hiện sưng, chắc kèm theo mất khả năng vận động ở khớp gần đó. Gãy xương bệnh lý hiếm gặp và thường chỉ thấy ở thể tiêu xương.
 
– Biểu hiện toàn thân thể trạng suy sụp, mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân nhiều và nhanh, có thể thiếu máu.
 
Thông thường ung thư xương tiến triển nhanh. Di căn chủ yếu theo đường máu đến phổi, sau đó di căn tới xương. Di căn đến các cơ quan nội tạng và hạch bạch huyết vùng hiếm gặp.
 
 
Triệu chứng cận lâm sàng
 
Xét nghiệm máu
Tăng phosphatase kiềm máu, tăng calci máu khi có sự hủy xương nhiều.
 
Chẩn đoán hình ảnh
X quang quy ước: rất đặc hiệu, tuy nhiên hình ảnh tổn thương trên X quang xuất hiện chậm hơn nhiều tuần hoặc nhiều tháng so với lâm sàng. X quang chỉ phát hiện được những tổn thương trên 1cm.
 
Đặc điểm hình ảnh ung thư di căn xương trên X quang là: tiêu xương, kết đặc xương và thể hỗn hợp. Trong 64% các trường hợp X quang cho phép gợi ý sarcom xương. Sarcom kinh điển cho thấy các hình ảnh khác nhau tùy theo sự biệt hóa của tế bào ung thư. Có thể chiếm ưu thế tăng sinh xương, sụn hay nguyên bào sợi, kết hợp với sự hình thành xương nhiều hay ít.
 
X quang quy ước cho thấy các tổn thương hỗn hợp xơ hóa và tiêu xương với phản ứng màng xương và khối sưng ở phần mềm. Đôi khi có thể dấu hiệu “bùng nổ mặt trời” (sunburst) do sự tạo thành xương mới. Đó là các gai xương dài, mảnh, hướng vuông góc với xương. Khoảng trong xương đặc trưng bởi ranh giới mở, khi các bè xương bình thường bị thay thế bởi các vùng thấu quang hay kết hợp các vùng thấu quang và cản quang.
 
Trên X quang cũng có thể phân biệt hai thể sarcom xương: tiêu xương và tạo xương. Trong thể tạo xương tăng cơ xương hành xương, có thể lan tới tận thân xương và tấm sụn đầu xương. Xơ xương đậm đặc ở phí gốc của xương có các đám tiêu xương không đều thô. Vỏ xương bị vỡ ở một số vị trí. Màng ngoài xương cũng bị dày lên, từ đó xuất phát các gai hướng thành các tia. Đối với sarcom xương có thể tiêu xương, trong các u nhiều tế bào hay u sao mạch, quá trình tiêu xương chiếm ưu thế. Có các ổ tiêu xương như mối gặm trong xương xốp và vỏ xương, có thể gây gãy xương ngang qua ở vùng hành xương. U xâm lấn phần mềm, tạo nên hình ảnh bóng mây.
 
Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI). CT và MRI rất có giá trị trong việc đánh giá những tổn thương còn ở trong tủy xương, từ đó hướng dẫn sinh thiết tổn thương. Các phương pháp này có độ nhạy và độ hiệu quả trong việc phát hiện ung thư xương
 
 
Mô bệnh học
 
 
Chọn sinh thiết: chọc hút qua da bằng kim, dùng kim to chọc vào khối u, lấy thêm một mảnh xương. Ngày nay nhờ có hướng dẫn của chụp CT định hướng kim sinh thiết nên khả năng sinh thiết đúng khối u là rất cao.
 
Sinh thiết mở: trong trường hợp cần thiết hoặc nghi ngờ chẩn đoán.
 
Trên tiêu bản mô bệnh học có thể thấy chất dạng xương xắp thành ô vuông, xương và sụn ở giữa chất đệm của u. Có thấy nhiều tế bào u đa nhân khổng lồ, sợi collagen, đám chảy máu và calci hóa.
 
 
Chẩn đoán
 
 
Chẩn đoán xác đinh di căn xương dựa vào lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và hình ảnh mô bệnh học.
 
Chẩn đoán phân biệt
Cốt tủy viêm.
85% gặp ở trẻ em (14 tuổi), nam mắc nhiều hơn nữ.
 
Nguyên nhân do tụ cầu vàng.
Gặp ở người có ổ nhiễm khuẩn mủ, mụn nhọt hoặc sau gãy xương hở.
 
Triệu chứng toàn thân: sốt cao, rét run. Tại chỗ: da viêm tấy đỏ, đau, có thể có lỗ rò mủ.
 
Xét nghiệm: công thức máu, tăng bạch cầu.
 
X quang: xương mất chất vôi, màng xương bong tách vồng lên, lớp xương mới hình thành ở trong màng xương, có hình ảnh mảnh xương chết nằm trong vùng tổn thương.
 
Viêm cơ
Nguyên nhân do tụ cầu vàng hoặc liên cầu.
 
Đau vùng cơ viêm, hạn chế cử động chi do đau.
 
Xét nghiệm :công thức máu, bạch cầu tăng, máu lắng tăng.
 
X quang: thường không có gì đặc biệt, có thể thấy dày màng xương ít.
 
 
Hình ảnh xquang ung thư xương (ảnh sưu tầm)
 
 
Điều trị
 
 
Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật.
 
Cắt cụt hay phẫu thuật tiết kiệm chi, kết hợp với hóa trị liệu trước và sau phẫu thuật thường được sử dụng.
 
Trong một số trường hợp có thể lấy bỏ xương một cách độc lập, lấy bỏ toàn bộ xương bả vai, cắt bỏ một đoạn đầu trên xương cánh tay, cắt bỏ xương mác.
 
Xạ trị ngoài, đây là phương pháp đã được áp dụng từ lâu, tuy nhiên điều trị tia xạ chỉ có tác dụng trong một số trường hợp ung thư xương.
 
Chiếu xạ vào những vùng di căn với mục đích giảm đau, hạn chế sự phát triển. Phổ biến là strontium -89 và P32(phosphor-32). Chỉ định tia xạ cao từ 70-80 Grey.
 
Thuốc giảm đau: chống viêm không steroid, xạ trị giảm đau biphosphonat. Nếu có tăng calci máu, lợi tiểu, calcitonin, pamidronat (truyền tĩnh mạch)
 
 
Tiên lượng
 
 
Mặc dù tiến triển xâm lấn của bệnh với nguy cơ di căn cao, tỉ lệ sống sau 5 năm và không bị tái phát là từ 40-80% khi điều trị kết hợp phẫu thuật và hóa trị liệu. Nếu chỉ điều trị phẫu thuật đơn độc thì tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ là 10-20%.
 
Tiên lượng dựa theo vị trí của ung thư xương, cần lưu ý những bất thường xương ở những bệnh nhân nhất là bệnh nhân nam giới trẻ tuổi để phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.
 
Ung thư tiền liệt tuyến là một bệnh phổ biến ở nam giới hiện nay, đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Ở Mỹ mỗi năm có 240 nghìn người mắc và 30 nghìn người tử vong, 10% các ung thư tiền liệt tuyến thấy có biểu hiện tiền sử gia đình, cụ thể là có biến loạn gen GSPT1.
***
Bệnh đau khớp và cách chữa trị bệnh đau khớp
Đau khớp
Bệnh đau khớp (viêm khớp) là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm dẫn đến tình trạng sụn ở khớp xương bị ăn mòn. Nếu bệnh tiến triển nặng hơn, khi vận động các khớp xương người bệnh sẽ cảm thấy đau ở các khớp xương, nắn chung quanh các khớp xương sẽ thấy đau, có khi bị sưng, cử động các khớp xương bị hạn chế, nhiều khi phát ra tiếng kêu răng rắc trong khớp xương. Thường thì khớp xương nào cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng phần lớn bệnh đau khớp ảnh hưởng tới các khớp xương, đau khớp tay, đau khớp vai, đau khớp đầu gối, đau khớp xương chậu và đặt biệt nhất là trên xương sống.
Nguyên nhân chính đưa đến bệnh đau khớp là lớp sụn ở khớp xương bị thoái hóa và ăn mòn, thiếu chất nhờn ở các khớp xương, điều này tạo nên đau nhức khi cử động hoặc vận động. Tình trạng này là do lớn tuổi các tế bào bị suy thoái, ảnh hưởng nhất là các tế bào ở đầu khớp xương để tạo chất sụn và chất nhờn ở đầu khớp xương (sụn ở khớp xương được cấu tạo như một lớp đệm giữa hai đầu khớp xương để tránh va chạm khi cử động, còn chất nhờn ở trong khớp xương giúp cho trơn trượt dễ dàng khi chúng ta cử động). Lao động nặng về thể chất lúc còn trẻ, bị tai nạn như đụng xe, ngã té, bong gân hoặc thiếu dinh dưỡng cũng dễ đưa tới tình trạng đau khớp.
 
Triệu chứng của bệnh khớp
 
Dấu hiệu điển hình nhất của viêm khớp dạng thấp là viêm đa khớp, diễn biến kéo dài. Không chỉ bị đau, sưng tấy các khớp tay, chân mà người bệnh còn bị viêm nhiều khớp khác trên cơ thể. Các khớp viêm bị sưng, nóng, đỏ, đau, khó cử động. Tình trạng khớp bị cứng, khó cử động thể hiện rõ nhất vào sáng sớm và có thể kéo dài hàng giờ. Cùng với các triệu chứng tại khớp là hiện tượng toàn thân như sốt, mệt mỏi, người xanh xao, gầy sút.
 
Viêm khớp dạng thấp diễn biến theo từng đợt. Ở giai đoạn đầu, khi khớp mới bị sưng nóng nếu được phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng cách, bệnh có thể diễn biến tốt. Nếu bệnh đã chuyển sang giai đoạn hai, xuất hiện tổn thương ở sụn khớp và đầu xương, người bệnh có nguy cơ bị biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động.
 
Ai là người hay mắc bệnh đau khớp?
 
Ai cũng có thể bị đau khớp. Nhưng thường là những người cao tuổi do xương, khớp không còn chắc khỏe dẫn đến thoái hóa, loãng xương. Ngoài ra, những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này.
 
Cách chữa bệnh đau khớp
 
Dùng thuốc giảm đau: Hiện nay trên thị trường có bày bán rất nhiều loại thuốc giảm đau như aspirin, ibuprofen hay acetaminophen, đều có tác dụng giảm đau nhanh chóng. Tuy nhiên, bạn nên tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ hay dược sĩ trước khi muốn sử dụng loại thuốc nào. Ngoài ra, bạn nên nhớ rằng thuốc là con dao hai lưỡi, bởi vậy sẽ không có lợi cho bạn nếu quá lạm dụng thuốc giảm đau.
 
Sử dụng biện pháp châm cứu: Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy: châm cứu có tác dụng đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc chứng đau xương khớp mà nhất là chứng viêm khớp mãn tính. Cho nên, bạn không nhất thiết phải quá phụ thuộc vào thuốc hay phải “miễn cưỡng” chấp nhận những ca phẫu thuật để hy vọng cải thiện tình trạng sức khoẻ mà có thể áp dụng liệu pháp châm cứu, đơn giản, ít tốn kém mà đem lại hiệu quả cao trong việc điều trị.
 
Luyện tập: Luyện tập được xem như một liều thuốc quý, rất có ích đối với sức khỏe con người và đặc biệt cực kỳ công hiệu trong việc giảm đau nhức. Có rất nhiều hình thức luyện tập mà bạn có thể lựa chọn phù hợp theo độ tuổi, sức lực và sở thích, ví như những môn thể thao bơi lội, aerobic hay chỉ đơn giản là hình thức đi bộ.
 
Cách phòng bệnh đau khớp
 
Thường xuyên vận động:Việc luyện tập không chỉ tốt cho hệ tim mạch mà còn tốt cho hệ xương, cơ và khớp.
Căng duỗi: Căng duỗi sẽ giúp cơ bắp được tăng cường và củng cố các khớp. Lưu ý là phải khởi động kỹ các khớp trước khi thực hiện bài tập căng duỗi nếu không sẽ có thể dẫn tới kết quả ngược.
Ăn uống hợp lý: Xương của bạn cần một lượng lớn dinh dưỡng để khỏe mạnh. Vì thế các thực phẩm giàu vitamin C và E, canxi sẽ hỗ trợ cho hệ khớp trong cơ thể không bị sớm suy thoái.
Uống đủ nước: Nước chiếm 70% thành phần của sụn và duy trì sự trơn tru giữa 2 đầu xương.
Bài thuốc chữa đau khớp
 
Lấy lá ngải cứu trắng rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi nướng nóng lên, sau đó đắp vào khớp. Khi khớp bị sưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi, khớp bớtsưng hơn. Còn với những người có nguy cơ cao bị đau khớp (người lớn tuổi, người béo phì…) có thể dùng bài thuốc này chườm lên khớp hàng ngày sẽ có tác dụng phòng bệnh.
 
Ngâm chân bằng nước muối ấm pha gừng. Mỗi ngày, tốt nhất ngâm chân một lần vào thời gian thuận lợi, ngâm từ 15 – 30 phút. Nước muối ấm và gừng cũng có tác dụng làm dịu cơn đau, phòng bệnh đau khớp cổ chân. Ngâm chân bằng nước ấm hàng ngày vào buổi tối không chỉ có lợi cho chân mà còn giúp phòng người nhiều bệnh cho toàn thân.
 
Những lưu ý đối với người đau khớp
 
Những người bị đau khớp, viêm khớp dạng thấp tuyệt đối không được ra ngoài khi trời lạnh kèm theo mưa phùn. Bởi những lúc trời lạnh, độ ẩm cao thì tình trạng bệnh càng nặng hơn.
 
Trong tình huống bắt buộc, phải đi tất ấm và dùng áo đi mưa để tránh bị ướt. Nếu quần áo bị ẩm, cần thay ngay và lau khô người, chân tay. Còn với bà con nông dân, khi khớp bị những đợt sưng cấp tuyệt đối không được lội nước, lội bùn. Tốt nhất người nông dân khi làm ruộng nên đi ủng để chân vẫn luôn khô ráo”.
 
Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý mãn tính, có thể gây những di chứng nặng nề như: dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Ở Việt Nam, khoảng 0,3% – 0,5% dân số mắc bệnh, trong đó 80% là nữ giới ở độ tuổi từ 30 trở lên.
 
Người bị viêm khớp dạng thấp phải được điều trị sớm để tránh tình trạng bị dính, biến dạng khớp dẫn đến tàn phế. Có rất nhiều loại thuốc trị bệnh trên thị trường nhưng người bệnh không được tự ý dùng thuốc vì có thể có những tác dụng phụ. Đặc biệt, những thuốc điều trị về thấp khớp rất dễ ảnh hưởng đến dạ dày.
***
Thấp khớp
A – Đại cương
 
• Thấp khớp là bệnh sưng đau các khớp xương.
 
• YHCT gọi chung là Tý chứng. Tý nghĩa là bế, chỉ khí huyết kinh lạc bị trở trệ do tà khí xâm nhập vào gây ra.
 
• Bệnh thường hay tái phát và có thể gây biến chứng vào tim.
 
 
 
Thap-khop
B – Nguyên nhân
 
– Do cơ thể suy yếu, da lông sơ hơ?, vinh vệ không vững, phong, hàn, thấp tà thừa cơ xâm nhập sinh ra chứng Tý.
 
– Do sau khi lao động mồ hôi đang ra mà ngồi giữa luồng gió hoặc đi tắm mà bị gió lạnh. Hoặc ở chổ ẩm thấp lâu ngày, tà khí thừa cơ xâm nhập vào làm cho kinh lạc bị bế tắc gây ra bệnh.
 
C – Chứng trạng
 
Trước đây, các sách phân ra làm: Hành Tý, Thống Tý, Trước Tý, Nhiệt Tý, tuy nhiên, trong loại Phong Hàn Thấp Tý thì bệnh lý cu?a Hành Tý, Thống Tý, và Trước Tý đều giống nhau, chứng trạng trên lâm sàng cũng giống nhau, vì vậy các sách giáo khoa gần đây chỉ quy về hai loại chính là Phong Hàn Thấp Tý và Phong Nhiệt Thấp Tý.
 
1. Phong Hàn Thấp Tý
 
Đau một hoặc nhiều khớp, khớp sưng nóng đo? làm cho cư? động khó khăn, Chủ yếu do Phong, Hàn và Thấp xâm nhập gây ra. Tuy nhiên, tùy nguyên nhân mà có thể phân ra:
 
a – Phong (Hành) Tý: do phong tà nhiều hơn, với triệu chứng chính là đau di chuyển chứ không nhất định, sốt, sợ lạnh, rêu lưỡi vàng, mạch Sác, còn gọi là Lịch Tiết Phong.
 
b – Hàn (Thống) Tý: do hàn tà nhiều hơn. Đau nhức toàn thân hoặc tại chỗ, chỗ đau nhất định, gặp nóng thì đỡ đau, gặp lạnh thì đau nhiều, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền, Khẩn.
 
c – Trước (Thấp) Tý: da thịt tê mo?i, các khớp đau, có ca?m giác nặng, đau một chỗ nhất định, phù, rêu lưỡi trắng, mạch Nhu Hoãn.
 
2. Nhiệt Tý
 
Khớp xương đau nhức, chỗ đau thấy nóng hoặc sưng đo?, đau không chạm vào được, gặp lạnh thì dễ chịu, đại tiện bón, tiểu vàng, khát, rêu lưỡi vàng, mạch Hoạt Sác.
 
D – Điều trị
 
1- Châm Cứu Học Thượng Hải: Tùy theo kinh mạch vận hành qua chỗ đau. Kết hợp huyệt ở gần và huyệt ở xa, để sơ thông kinh mạch, điều hòa khí huyết.
 
• Phong Tý: dùng châm.
 
Thấp Tý: phối hợp với cứu hoặc ôn châm.
 
Nhiệt Tý: có thể châm ra máu.
 
Huyệt thường dùng:
 
*• Khớp Thái Dương – hàm: Hạ Quan (Vi.7) + Thính Cung (Ttr.19) + Ế Phong (Ttu.17) + Hợp Cốc (Đtr.4).
 
* Khớp xương sống: lấy huyệt tương ứng ở sát xương sống + Ân Môn (Bq.37) + U?y Trung (Bq.40) + Nhân Trung (Đc.26).
 
* Khớp vai: Kiên Ngung (Đtr.15) + Kiên Liêu (Ttu.14) + Kiên Nội Lăng + Thiên Tông (Ttr.11) + Trung Chử (Ttu.3) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34).
 
* Khớp khuỷtay: Khúc Trì (Đtr.11) + Thiên Tỉnh (Ttu.10) + Hợp Cốc (Đtr.4).
 
* Cổ tay, Bàn tay, Ngón tay: Ngoại Quan (Ttu.5) + Thủ Tam Lý (Đtr.10 + Dương Khê (Đtr.5) + Dương Trì (Ttu.4) + Uyển Cốt (Ttr.4) + Đại Lăng (Tb.7) + Thượng Bát Tà + Tứ Phùng.
 
* Khớp thắt lưng, xương cùng: Yêu Dương Quan (Đ.33) + Thập Thất Chùy Hạ + Bạch Hoàn Du (Bq.28) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + U?y Trung (Bq.40) + Côn Lôn (Bq.60).
 
* Khớp xương cùng, xương hông: Tiểu Trường Du (Bq.27) + Bàng Quang Du (Bq.28) + A Thị Huyệt.
 
* Khớp háng: Hoàn Khiêu (Đ.30) + Cự Liêu (Vi.3) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tuyệt Cốt (Đ.38).
 
* Khớp gối: Hạc Đỉnh + Tất Hạ + Tất Nhãn + Lương Khâu (Vi.34) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34).
 
* Khớp mắt cá chân (cổ chân): Gia?i Khê (Vi.41) + Khâu Khư (Đ.40) + Thái Khê (Th.3) + Côn Lôn (Bq.60) + Dương Giao (Đ.35) + Giao Tín (Th.8).
 
* Khớp ngón chân: Thượng Bát Tà + Công Tôn (Ty.4) + Thúc Cốt (Bq.65) + Dương Phụ (Đ.38) + Thương Khâu (Ty.5).
 
2- Vai đau như muốn gẫy: Dưỡng Lão (Ttr.6) + Thiên Trụ (Bq.10) (Thiên Kim Phương).
 
3-• Lưng đùi đau: Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị + Âm Thị (Vi.33) + U?y Trung + Thừa Sơn (Bq.57) + Côn Lôn (Bq.60) + Thân Mạch (Bq.62) (Tư Sinh Kinh).
 
4- Ngón tay co rút: Khúc Trì (Đtr.11) + Dương Trì + Hợp Cốc (Đtr.4) (Thần Ứng Kinh).
 
5- Phong Tý, khuỷ tay co rút không duỗi được: Xích Trạch + Khúc Trì (Đtr.11) + Hợp Cốc (Đtr.4) (Thần Ứng Kinh).
 
6– Kiên Tỉnh (Đ.21) + Khúc Trì (Đtr.11) + Thủ Tam Lý (Đtr.10) + Hạ Liêm (Đtr.8) + Thủ Ngũ Lý (Đtr.13) + Kinh Cừ (P.8) + Thượng Liêm (Đtr.9) trị cánh tay đau (Châm Cứu Đại Thành).
 
• 7- Khớp cổ tay: Dương Khê (Đtr.5) + Dương Trì + Uyển Cốt (Ttr.4) + Đại Lăng (Tb.7).
 
* Mắt cá chân: Thương Khâu (Ty.5) + Gia?i Khê + Khâu Khư (Đ.40).
 
• * Vùng Háng: Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Cư Liêu (Đ.29) + Trật Biên (Bq.54).
 
• * Khớp gối: Độc T (Vi.35) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34).
 
*• Khớp khuỷtay: Khúc Trì (Đtr.11) + Khúc Trạch (Tb.3) + Thủ Tam Lý (Đtr.10) + Thiếu Ha?i (Tm.3).
 
*• Khớp vai: Kiên Ngung (Đtr.15) + Kiên Liêu (Ttu.14) + Kiên Trinh (Ttr.9).
 
*• Ngón chân đau: Bát Phong + Nhiên Cốc (Th.2).
 
* Ngón tay co rút: Bát Tà + Ngoại Quan (Ttu.5).
 
* Vùng xương chân đau: Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Khâu Khư (Đ.40).
 
*• Gối sưng đo?, đau: Tất Quan (C.7) + U?y Trung (Bq.40) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Âm Thị (Vi.33) (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
 
8- Các huyệt chính: Hợp Cốc (Đtr.4) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + U?y Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Khúc Trì (Đtr.11) + Kiên Ngung (Đtr.15) + Côn Lôn (Bq.60).
 
*• Khớp gối: U?y Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tất Quan (C.7) + Tất Nhãn + Tam Lý (Vi.36) + Hành Gian (C.2).
 
*• Khớp háng: U?y Trung (Bq.40) + Hoàn Khiêu (Đ.30).
 
* Khớp khuỷtay: Khúc Trì (Đtr.11) + Xích Trạch (P.5) + Thông Lý (Tm.5) + Khúc Trạch (Tb.3) + Dịch Môn (Ttu.2) + Trung Chử (Ttu.3) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Thủ Tam Lý (Đtr.10).
 
• * Khớp mắt cá chân: Côn Lôn (Bq.60) + Thái Khê (Th.3) + Âm Cốc (Th.10) + Khâu Khư (Đ.40).
 
*• Khớp bàn chân: Côn Lôn (Bq.60) + Thái Khê (Th.3) + Thân Mạch (Bq.62) + Chiếu Ha?i (Th.5) + Thái Xung (C.3).
 
*• Khớp vai: Kiên Ngung (Đtr.15) + Kiên Tỉnh (Đ.21) + Kiên Trung + Kiên Ngoại Du (Ttr.14) + Kiên Liêu (Ttu.14) + Khúc Trì (Đtr.11) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Đại Chùy (Đc.14) + Quan Xung (Ttu.1).
 
• * Khớp cổ tay: Uyển Cốt (Ttr.4) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Dương Trì (Ttu.4) + Thái Dương + Ngoại Quan (Ttu.5) + Trung Chử (Ttu.3) (Châm Cứu Trị Liệu Học).
 
9- Khớp vai: Kiên Tam Châm
 
• * Khớp khuỷ: Trữu Du
 
* Khớp ngón tay: Tiểu Cốt Không.
 
* Khớp gối: Lương Khâu (Vi.34) + Tất Dương Quan (Đ.33) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tất Quan (C.7) + Tất Ngoại + Hạc Đỉnh + Hậu Dương Quan (CHâm Cứu Học HongKong).
 
10- Khu phong, tán hàn, Hóa thấp, sơ thông kinh lạc.
 
• * Cổ Đau: Huyền Chung (Đ.39) + Kiên Tỉnh (Đ.21).
 
* Quanh khớp vai đau: Kiên Ngung (Đtr.15) + Kiên Liệu + Kiên Tỉnh (Đ.21) + Nhu Du (Ttr.10).
 
* Khuỷtay đau: Khúc Trì (Đtr.11) + Kiên Tỉnh (Đ.21) + Tý Nhu (Đtr.14).
 
* Sống lưng đau: Thủ y Câu (Đc.26) + Thân Trụ (Đc.12) + Dương Quan (Đ.33) + Mệnh Môn (Đc.4) + Phong Môn (Bq.12).
 
* Vùng hông đau: Thứ Liêu (Bq.32) + Cư Liêu (Đ.29) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Trật Biên (Bq.54) + UŒy Trung (Bq.40).
 
* Đùi đau: Bể Quan (Vi.31) + Lương Khâu (Vi.34) + Phong Thị (Đ.31) + Thừa Phò (Bq.36).
 
* Đầu gối: Tất Nhãn + Hạc Đỉnh + Huyết Ha?i (Ty.10) + Tất Dương Quan (Đ.33) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9).
 
* Khớp cổ chân và mắt cá: Gia?i Khê (Vi.41) + Khâu Khư (Đ.40) + Côn Lôn (Bq.60) + Thái Khê (Th.3).
 
* Cẳng tay: Thủ Tam Lý (Đtr.10) + Khúc Trì (Đtr.11) + Ngoại Quan (Ttu.5).
 
* Cẳng chân: Túc Tam Lý (Vi.36) + Hạ Cự Hư (Vi.39) + Dương Phụ (Đ.38).
 
*• Hành Tý: thêm Cách Du (Bq.18) + Huyết Ha?i (Ty.10).
 
* Thống Tý: thêm Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên (Nh.4) [cứu].
 
* Trước Tý: thêm Túc Tam Lý (Vi.36) + Thương Khâu (Ty.5).
 
* Nhiệt Tý: thêm Đại Chùy (Đc.14) + Khúc Trì (Đtr.11) + Hợp Cốc (Đtr.4).
 
Ý nghĩa: Đại Chùy + Khúc Trì + Hợp Cốc để thanh nhiệt, gia?i biểu, trị nhiệt Tý; Cách Du + Huyết ha?i để hoạt huyết trị hành Tý; Thương Khâu + Túc Tam Lý kiện tỳ, hành Thủ y để trị thấp Tý; Quan Nguyên + Thận Du để ích ho?a, trợ dương, khu tán hàn tà (Châm Cứu Học Việt Nam).
 
chín lần châm cách ngày một lần, khi liệu trình chấm dứt, các triệu chứng khỏi hoàn toàn và không thấy tái phát trong hai năm.
 
***
Bệnh lao xương
Trong hệ xương khớp, cột sống thắt lưng là vị trí tổn thương thường gặp nhất trong bệnh lao xương. Triệu chứng điển hình là đau lưng âm ỉ và tăng dần, đi kèm sốt nhẹ về chiều. Tình trạng này kéo dài làm người bệnh gầy sút và suy nhược.
 
Có trường hợp ở bên ngoài thắt lưng phát triển khối u, ấn vào thấy mềm, không đau nhức. Một thời gian khối u vỡ, giải phóng nước vàng và chất bã đậu, tạo vết loét gọi là “áp xe lạnh ngoài cột sống”. Trong đa số trường hợp, cột sống thắt lưng xuất hiện khối u nổi cộm dưới da, hạn chế cử động. Tình trạng này do vi khuẩn tấn công phần trước đốt sống, khiến phần còn lại của đốt sống bị lệch ra ngoài.
 
Khi vi khuẩn tấn công vùng khớp háng, người bệnh nổi hạch bẹn, sưng đỏ và đau nhức. Sau một thời gian hạch xuất hiện lỗ rò rỉ, tiết dịch, tạo diều kiện lây lan, truyền bệnh cho người khác qua chung đụng. Tổn thương từ hạch bệnh có thể làm teo cơ mông, cơ đùi. Ngoài ra, các khớp xương vai, cổ tay, cổ chân, khớp cũng dễ bị vi khuẩn tàn phá.
 
Biến chứng đáng sợ nhất trong bệnh lao xương khớp là bại liệt tứ chi hoặc hai chi dưới, tùy theo vị trí tổn thương ở cột sống. Nguyên nhân dẫn đến là do vi khuẩn làm cột sống biến dạng, chèn ép tủy sống và rễ thần kinh. Phát hiện biến chứng muộn, việc chạy chữa không đúng chuyên môn là lý do để mầm bệnh phát triển rộng đến các cơ quan, phổi, màng não… gây nguy kịch dẫn đến tử vong.
 
Đối tượng bệnh lao xương khớp thường xảy ra ở tuổi 20-40. Yếu tố nhiễm bệnh từ mối quan hệ với người bệnh, nhất là lao phổi. Có tỷ lệ nhỏ nhiễm phải mầm bệnh từ sữa của bò mắc bệnh lao. Nhưng phần lớn lao xương khớp là biến chứng của lao phổi, lao hạch, lao thận, bàng quang… Vi khuẩn từ vị trí tổn thương, theo máu di chuyển đến các khớp xương còn là hậu quả của bệnh lao hạch cổ, còn gọi là bệnh tràng hạt.
 
Với tiến bộ của những phương pháp điều trị, bệnh lao xương có thể chữa khỏi hoàn toàn trong 9-12 tháng. Dù vậy, trong thực tế còn một tỷ lệ nhỏ bệnh không chữa khỏi, đưa đến hậu quả đáng tiếc. Việc chữa trị chắp vá, gián đoạn, để vi khuẩn kháng thuốc là nguyên nhân thất bại trong điều trị.
 
Trong 2-3 tháng đầu, phác đồ điều trị lao xương gồm:
 
– Isoniazit (INH Rimifon 150 mg) với liều 5 mg cho 1 kg thể trọng trong 24 giờ.
 
– Rifampicin 300 mg (Rifadin, Rimactan) liều 12 mg/kg/24 giờ.
 
– Ethambutol 400 mg (Myambutol, Syntomen…) liều 20 mg/kg/24 giờ.
 
– Streptomycin 1 g tiêm bắp thịt 1 g/ngày. Người trên 60 tuổi tiêm ngày 0,75g (2/3 liều).
 
Tất cả 3 loại thuốc uống và một loại thuốc tiêm phải sử dụng tập trung cùng lúc. Sau liều trị đầu tiên, bệnh chuyển biến tích cực, phác đồ nối tiếp chỉ cần duy trì Isoniazit và Rifampicin trong suốt thời gian còn lại. Trường hợp khác đã tổn thương, cũng cần có chỉ định cố định khớp. Người bị tổn thương cột sống nên dùng giường bột. Trường hợp vị trí tổn thương ở khớp tay, chân, phải dùng máng bột mới thực sự an toàn. Nếu người bệnh tổn thương cột sống cổ, cũng có độ lệnh cao và có nguy cơ chèn ép tuỷ, rễ thần kinh, cần bó bột trong 3 – 6 tháng.
 
Để phát hiện sớm bệnh lao xương khớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần nhanh chóng khám và xét nghiệm X quang (phổi, cột sống hoặc vị trí xương khớp tổn thương), soi vi khuẩn (chọc hút từ vị trí tổn thương). Tùy tình trạng cụ thể, có thể tiến hành tìm kết quả Mantoux, tốc độ lắng máu, công thức máu…
trần minh hiền orlando ngày 30 tháng 7 năm 2013


https://twitter.com/#!/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
https://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam

 

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s