NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ SÓC

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ SÓC
Squirrel vs snake http://www.youtube.com/watch?v=Nr9sF0TqIU0

Con Đi Học Nhạc : LMST2013, Thơ: Trần Minh Hiền, Thực Hiện PPS và Youtube: Trần Minh Hiền 

Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a
Dâng Mẹ Hiền
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Ca Sĩ : Duyên Quỳnh 
http://www.youtube.com/watch?v=hBlZpTnyI_M
Mẹ Diệu Hiền Bao La
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=1UHhQ9Frdus&feature=youtu.be
Tình Yêu Chôn Dấu Cuối Ngàn Tìm Quên . Nhạc : Nguyễn Hữu Tân . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Thực Hiện PPS và YouTube: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=OHoaKQujGjE

Ballet Arizona and Desert Botanical Garden creating “Topia” http://www.youtube.com/watch?v=gEvRuIfn_34
Boléro – new work – Ballet de l’Opéra (Opéra de Paris) http://www.youtube.com/watch?v=3WqjTP5hL1k

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ SÓC
trần minh hiền orlando ngày 27 tháng 8 năm 2013
Sóc: loài vật yếu ớt, đáng yêu
Sóc là loài vật thuộc động vật gặm nhấm, được gọi là Sciuridae. Chúng bao gồm rất nhiều loài như sóc cây, sóc đất, sóc bay… Đây là loài động vật rất đáng yêu của tự nhiên và cùng rất yếu ớt, đang cần được bảo vệ cấp thiết trước sự săn lùng “tàn bạo” của kẻ thù… trong đó có con người. 
 
Sóc Bay. Loài Sóc này có tên khoa học là Pteromyini, hoặc Petauristini. Sóc bay không có khả năng bay lâu, thay vào đó chúng lướt từ cây này sang cây khác với mỗi “chuyến bay” dài tới 90m.
 
Sóc bay sử dụng cánh tay, chân để điều khiến hướng và tốc độ bay. Ngoài. ra, đuôi của Sóc cũng hỗ trợ trong quá trình bay, có nhiệm vụ như mộ cái phanh hãm không khí trước khi chúng hạ cánh trên một thân cây.
 
Mặc dù loài Sóc bay có thể sống tối đa là 15 năm, nhưng chúng lại có tuổi thọ trung bình khoảng 6 năm. Sở dĩ như vậy là vì chúng là con mồi hấp dẫn của rất nhiều loài động vật như gấu trúc, cú ăn đêm, chó sói, mèo hoang. …
 
Có vẻ như những ông bố của loài Sóc này khá “vô trách nhiệm” bởi chúng không tham gia vào việc nuôi dưỡng và bảo vệ con non. Tất cả mọi việc là do Sóc mẹ “lo toan”.
 
Chú Sóc đất lông vàng này đang tìm kiếm thức ăn trong các bụi cây hoa. Loài sóc này sống ở tất cả các rừng trên khắp Bắc Mỹ. Thức ăn chủ yếu của Sóc đất lông vàng là các hạt giống, quả, côn trùng và nấm dưới lòng đất.
 
Loài này sống trong các hang dưới đất, và đó cũng là kho lưu trữ thức ăn của chúng. Giống như các loài sóc chuột, vùng má của chúng thực chất là 2 cái “khoang” để cất trữ lương thực.
 Loài Sóc đất đá này rất nhỏ, đuôi rậm rạp, bộ lông màu nâu xám và có những đốm trắng.Như tên gọi của nó, người ta tìm thấy loài này ở vùng núi đá bang Arizona, New Mexico, Texas, Colorado (Hoa Kỳ)… Chúng sống dọc theo các vách đá, xa lộ…bất cứ nơi nào có thức ăn. 
 
Sóc đất đá ăn cỏ, sồi, hạt thông, quả bách xù, đậu, cây xương rồng, hoa quả và hạt cây táo, anh đào, mơ, đào, lê, dưa hấu… Loài sóc này giống như những chú chó ở thảo nguyên, chúng thay phiên nhau làm nhiệm vụ canh gác, và cảnh báo cho những con khác khi gặp nguy hiểm. 
 
Sóc xám miền Đông, hay còn gọi là sóc xám, có nguồn gốc ở miền Đông và Trung Tây Hoa Kỳ, miền Nam các tỉnh phía Đông của Canada. Tên gọi đã nói lên màu sắc của loài sóc này, ngoài ra chúng còn có màu hơi đỏ, lông bụng màu trắng, và có đuôi rậm rạp lớn.
 
 
Tuy là một nhà “leo trèo” xuất sắc, nhưng sóc vẫn thường xuyên tìm kiếm hạt, sồi, quả và hoa ở mặt đất. 
 
Đứng đầu danh sách kẻ thù của Sóc xám chính là con người, sau đó là diều hâu, chồn hôi, gấu trúc, mèo hoang, rắn, cú mèo và chó. Thỉnh thoảng ta có thể bắt gặp một con sóc may mắn “bị mất đuôi” khi đã trốn thoát được nanh vuốt của kẻ săn mồi.
 
Loài Sóc này có nhiều biến thể như sóc đuôi đen, hoặc sóc đen đuôi trắng…
 
Sóc cáo là loài sóc lớn nhất có nguồn gốc từ Bắc Mỹ. Thức ăn của chúng là các hạt cây, nụ và hoa quả, ngũ cốc, côn trùng, trứng chim và thằng lằn, rắn nhỏ. Tuổi thọ trung bình của Sóc cái là 12,6 tuổi, sóc đực là 8,6 tuổi. Con sóc sống lâu nhất được ghi nhận là 18 tuổi.  
 
Sóc cáo là “món ăn” của con người, diều hâu, cú mèo và rắn. Loài sóc cáo này khi gặp nguy hiểm sẽ phát ra các báo động cảnh báo bày đàn tìm nơi trú ẩn.
 
Sóc cáo là loài động vật rất vui vẻ, chúng rất thích chơi đùa, đuổi nhau cả trên cây và dưới đất. Loài này có cú nhảy rất ấn tượng, chúng dễ dàng mở rộng bàn chân 15 nóng và rơi tự do bằng 20 ngón hoặc nhiều hơn để hạ cánh một cách nhẹ nhàng.
Sóc đỏ là loài động vật gặm nhấm, ăn tạp, sống trên cây, phổ biến khắp Âu-Á. Bộn lông của sóc đỏ thay đổi theo năm tuổi và địa điểm sinh sống của nó. Giống như loài sóc xám miền đông, lông ở bụng sóc đỏ cũng màu trắng. Móng sắc, vuốt cong giúp sóc đỏ có thể leo cây nhanh chóng.
Sóc đỏ thích ăn hạt giống của cây, hạt sồi, hạt dẻ, quả mọng, chồi non và cả trứng gà. Loài này thường kiếm ăn vào buổi sáng, cuối chiều và buổi tối. Sóc đỏ có một khả năng đặc biệt, đó là “bơi lội”.
 Đây là con sóc đỏ hai ngày tuổi. Sóc đỏ đã được liệt kê trong phụ lục của công ước Bern (Công ước về bảo tồn động vật hoang dã Châu Âu và môi trường sống tự nhiên), và được ghi tên trong sách đỏ cần được bảo vệ của IUCN (Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên).
***
Họ Sóc (danh pháp khoa học: Sciuridae) là một họ lớn trong bộ Gặm nhấm (Rodentia). Từ Sciuridae có nghĩa là “đuôi bóng” và nó chỉ tới phần phụ thêm vào mọc rậm rạp của nhiều thành viên trong họ này. Nó bao gồm sóc cây, sóc đất, sóc chuột, macmot (bao gồm cả macmot châu Mỹ) và sóc bay thật sự. Sóc bay đuôi vảy châu Phi thuộc về họ Anomaluridae và không phải là sóc thật sự của họ Sciuridae. Họ Sciuridae được tìm thấy gần như trên mọi châu lục, ngoại trừ Australasia và châu Nam Cực.
Hộp sọ của sóc lớn phương Đôngl (Ratufa spp.). Lưu ý hình dạng dạng sóc kinh điển của khu vực xương gò má phía trước.
Họ Sciuridae nói chung là các động vật nhỏ, dao động về kích thước từ nhỏ như sóc lùn châu Phi chỉ dài 7–10 cm và cân nặng 10 gam, tới macmot Alps dài 53–73 cm và cân nặng 5–8 kg. Họ Sciuridae nói chung có thân hình mảnh dẻ với đuôi rậm rạp và mắt to. Bộ lông của chúng nói chung mềm và mượt, mặc dù ở một vài loài có thể là dày hơn. Màu lông của các loài dạng sóc biến động khá mạnh giữa các loài và thậm chí là ngay trong phạm vi loài.
Các chân sau nói chung dài hơn các chân trước, mỗi chân có 4 hay 5 ngón. Chân trước có ngón cái, mặc dù nó kém phát triển. Các chân của động vật họ sóc cũng có gan bàn chân mềm ở mặt dưới.
Họ Sciuridae sinh sống trong gần như mọi môi trường sống, từ rừng mưa nhiệt đới tới sa mạc bán khô cằn, chỉ không có tại khu vực cận địa cực và các sa mạc khô nhất. Chúng chủ yếu là động vật ăn cỏ, với thức ăn là hạt và quả, nhưng nhiều loài ăn cả côn trùng và thậm chí là các loài có xương sống nhỏ. Trên thực tế, một số loài nhiệt đới gần như chỉ ăn côn trùng. Bộ răng của các loài dạng sóc tuân theo kiểu răng điển hình của động vật gặm nhấm, với các răng cửa lớn có tác dụng gặm nhấm và chúng phát triển ra trong suốt cả cuộc đời, còn các răng hàm có tác dụng nhai thì nằm cách các răng cửa một khoảng trống lớn. Công thức bộ răng cho các loài dạng sóc là:
1.0.1.3
1.0.1.3
Các loài sóc nói chung có thị lực tốt, và điều này đặc biệt quan trọng cho các loài sống trên cây. Nhiều loài cũng có hệ thống cảm quan, với các ria mép hay các lông trên các chân.
Họ Sciuridae sinh sản 1 đến 2 lần trong năm, với số lượng con non sinh ra không đồng nhất sau 3-6 tuần, phụ thuộc vào từng loài. Các con non sinh ra trần trụi, không răng, mù và yếu ớt. Ở phần lớn các loài chỉ có con mẹ chăm sóc con non. Chúng được cho bú tới khoảng 6-10 tuần tuổi và thuần thục sinh lý vào cuối năm thứ nhất của cuộc sống của chúng. Các loài sinh sống trên mặt đất nói chung có tính cộng đồng, thường sinh sống thành bầy, nhưng các loài sống trên cây thì phần lớn là đơn độc.
Sóc bay phương nam (Glaucomys volans) trong tông Pteromyini.
Sóc Prevost (Callosciurus prevosti) của tông Callosciurini.
Sóc đất không sọc (Xerus rutilus) của tông Xerini.
Macmot Alps (Marmota marmota) của tông Marmotini.
Các loài sóc còn sinh tồn được chia ra thành 5 phân họ, với khoảng 50 chi và gần 280 loài. Mặc dù hóa thạch sóc cổ nhất đã biết, Douglassciurus, có niên đại vào thời kỳ tầng Priabona (Hậu Eocen, vào khoảng 37,5 – 35 Ma), nhưng động vật này dường như là sóc cây gần hiện đại, cho dù với hộp sọ nguyên thủy, và trên thực tế nó thường được đặt trong phân họ Sciurinae. Vì thế, dòng dõi sóc có thể có nguồn gốc từ thời gian sớm hơn thế.
Chủ yếu từ cuối thế Eocen cho tới thế Miocen, có nhiều dạng sóc mà không thể đưa vào bất kỳ nhánh còn sinh tồn nào với sự chắc chắn cao. Ít nhất là một số trong số này có lẽ là hậu duệ của nhóm cơ sở cổ nhất của họ Sciuridae – nhóm “sóc nguyên thủy” mà người ta có thể dùng để gọi chúng do chúng thiếu toàn bộ các đặc trưng hình thái của sóc còn sinh tồn -, trước khi những loài này tiến hóa thành các phân họ ngày nay. Sự phân bố và đa dạng của các dạng tổ tiên và cổ đại như thế gợi ý rằng sóc như là một nhóm động vật có thể có nguồn gốc từ Bắc Mỹ.
Bên cạnh các dạng hóa thạch ít được hiểu rõ này, phát sinh loài của sóc còn sinh tồn là tương đối dễ hiểu. Có ba dòng dõi chính, cụ thể là:
Dòng dõi thứ nhất là phân họ Ratufinae (sóc lớn phương Đông). Nhánh này chứa một nhóm nhỏ các loài sóc còn sinh tồn trong khu vực nhiệt đới châu Á nhưng đã từng phổ biến rộng khắp đại lục Á-Âu trong thời gian tiền sử.
Sóc lùn nhiệt đới Tân thế ở khu vực nhiệt đới Nam Mỹ là loài duy nhất còn sinh tồn của nhánh thứ hai (phân họ Sciurillinae).
Nhánh thứ ba là lớn nhất và chứa toàn bộ các phân họ còn lại với sự phân bố gần như toàn cầu. Điều này hỗ trợ tiếp giả thuyết rằng tổ tiên chung của mọi dạng sóc (còn sinh tồn và các dạng hóa thạch) đã sinh sống tại Bắc Mỹ do cả ba dòng dõi cổ nhất này dường như đã lan tỏa từ đây – nếu các dạng sóc có nguồn gốc Á-Âu thì người ta có thể dự kiến có các nhánh rất cổ tại châu Phi, nhưng các dạng sóc ở châu Phi lại dường như có nguồn gốc rất gần đây.
Nhóm chính các dạng sóc này (nhánh ba) lại có thể chia làm 3 phần, là các phân họ còn lại. Phân họ Sciurinae là nhóm sóc duy nhất không có độ chắc chắn đáng kể khi xem xét về mặt phân loại học. Cụ thể là nó không rõ ràng một cách đầy đủ là các dạng sóc bay thật sự (tông Pteromyini) có quan hệ họ hàng xa ở mức nào đối với sóc cây (tông Sciurini); nhóm đầu tiên này thông thường đã từng được coi là một phân họ riêng nhưng hiện nay chỉ được coi là một tông của phân họ Sciurinae. Ngược lại, nhóm sóc thông (chi Tamiasciurus ở Bắc Mỹ) thường được đưa vào trong tông Sciurini, nhưng dường như cũng có khác biệt lớn tương tự như là nhóm sóc bay; vì thế đôi khi chúng được coi là tông khác biệt với tên gọi Tamiasciurini.
Hai trong ba phân họ này có kích thước gần tương tự như nhau, chứa khoảng 70- 80 loài/mỗi phân họ; phân họ thứ ba khoảng 2 lần nhiều hơn. Phân họ Sciurinae chứa các dạng sóc sống trên cây, chủ yếu ở châu Mỹ và ở phạm vi hạn hẹp hơn tại đại lục Á-Âu. Phân họ Callosciurinae là đa dạng nhất tại nhiệt đới châu Á và chứa các dạng sóc cây, nhưng có sắc mạo khác đáng kể và dường như là “tao nhã” hơn, một ấn tượng được gia tăng bởi bộ lông thường rất sặc sỡ của chúng. Phân họ Xerinae – phân họ lớn nhất – chủ yếu là các dạng sóc đất (sống trên mặt đất) và cả các loài macmot lớn cùng chuột chó thảo nguyên; chúng có xu hướng thích sống thành bầy đàn hơn các dạng sóc khác.
Sciuridae cơ sở và không chắc chắn (incertae sedis (tất cả đều là hóa thạch)
Getuloxerus
Kherem
Oligosciurus
Plesiosciurus
Prospermophilus
Sciurion
Similisciurus
Sinotamias
Vulcanisciurus
Phân họ Cedromurinae (hóa thạch)
Phân họ Ratufinae – Sóc lớn phương Đông (1 chi, 4 loài)
Phân họ Sciurillinae – Sóc lùn nhiệt đới Tân thế (1 chi, 1 loài)
Phân họ Sciurinae
Tông Sciurini – Sóc cây (5 chi, khoảng 38 loài; bao gồm cả tông Tamiasciurini nếu coi là nhóm khác biệt)
Tông Pteromyini – Sóc bay thật sự (15 chi, khoảng 45 loài)
Phân họ Callosciurinae – Sóc cảnh châu Á
Tông Callosciurini (13 chi, gần 60 loài)
Tông Funambulini (1 chi, 5 loài)
Phân họ Xerinae – Sóc đất
Tông Xerini – Sóc gai (3 chi, 6 loài)
Tông Protoxerini (6 chi, khoảng 50 loài)
Tông Marmotini – Sóc đất, macmot, sóc chuột, chuột chó thảo nguyên v.v (6 chi, khoảng 90 loài)
trần minh hiền orlando ngày 27 tháng 8 năm 2013


https://twitter.com/#!/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
https://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam

 

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s