50 NĂM SAU NHÌN LẠI

50 NĂM SAU NHÌN LẠI

CIA Archives_ The South Vietnamese Coup Against Ngo Dinh Diem http://www.youtube.com/watch?v=VZf_rCma6jw
Mộ Huynh đệ – Ngô Đình Diệm – Ngô đình Nhu.AVI http://www.youtube.com/watch?v=GI2qxqrZzQA
Ngo Dinh Diem ( Nguyen nhan: The Coup 1963 ) http://www.youtube.com/watch?v=wGJaJBocqdQ
T T NGÔ ĐÌNH DIỆM Phần 1 (Cuốn DVD đầu tiên về TT Ngô Đình Diệm http://www.youtube.com/watch?v=GbIRZrcFZ2E
Sự thật về Ngô Đình Diệm và Chính biến 11_1963..wmv http://www.youtube.com/watch?v=5ebG4DnyCSs
TT Ngô Đình Diệm ngày cuối cùng và phút lâm chung.wmv http://www.youtube.com/watch?v=MvqH5X7glXA

Bài Nhạc : Mừng Con Thêm Tuổi
Nhạc: Vũ Thiên Đại Dương .
Lời Thơ: Trần Minh Hiền
Hòa Âm: Minh Châu
Thực Hiện PPS và YouTube : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=NG8SmJ6g4nk&feature=youtu.be
Con Đi Học Nhạc : LMST2013, Thơ: Trần Minh Hiền, Thực Hiện PPS và Youtube: Trần Minh Hiền 
www.lmstflorida.com/?1566
http://www.youtube.com/watch?v=1Q9ztvSHSb0&feature=youtu.be
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a
Dâng Mẹ Hiền
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Ca Sĩ : Duyên Quỳnh 
http://www.youtube.com/watch?v=hBlZpTnyI_M 
Mẹ Diệu Hiền Bao La
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=1UHhQ9Frdus&feature=youtu.be
Tình Yêu Chôn Dấu Cuối Ngàn Tìm Quên . Nhạc : Nguyễn Hữu Tân . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Thực Hiện PPS và YouTube: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=OHoaKQujGjE 

Zaz – Si (clip officiel) http://www.youtube.com/watch?v=W4DTYmmTsyQ
Depeche Mode – Should Be Higher (Live) http://www.youtube.com/watch?v=I_O37cE1j64
Tóc Tiên – Em Đẹp Nhất Đêm Nay http://www.youtube.com/watch?v=jyH1lyaUe_U
Du Ngoạn Miền Tây – Sông Nước Miền Nam #1 http://www.youtube.com/watch?v=EleJWCO5fBM
”LA DANZA DEL VENADO”Ballet Folklorico De Amalia Hdz.wmv http://www.youtube.com/watch?v=iXAJ6LO9r-U
Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam http://www.youtube.com/watch?v=989uMFRyu-4
★ (NEW!) America’s Funniest Home Videos – AFV part 864 http://www.youtube.com/watch?v=Drn4qpEWJtE

50 NĂM SAU NHÌN LẠI
trần minh hiền orlando ngày 29 tháng 10 năm 2013
Bất cứ 1 sự kiện lịch sử nào cũng có nhiều góc cạnh của nó, với mặt tốt và mặt xấu, và kẻ bênh người chống. Sự kiện ngày 1 tháng 11 năm 1963 là 1 sự kiện lịch sử làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam . Sau 50 năm nhìn lại chúng ta vẫn có nhiều ý kiến trái ngược nhau vì mỗi người với chính kiến khác nhau, quan niệm khác nhau nhìn sự kiện này, đánh giá khác nhau: người Thiên Chúa Giáo, người Phật Giáo, cộng sản, quốc gia, trung dung, người Pháp, người Hoa Kỳ … tất cả đều có cái nhìn khác nhau . Là 1 kẻ hậu sanh chúng tôi nhìn sự kiện bằng 1 con mắt bình tĩnh hơn, khách quan hơn và đặt tất cả mọi góc cạnh của sự kiện ngày 1 tháng 11 năm 1963 dẫn đến cái chết của TT Ngô Đình Diệm . Nhiều bí ẩn vẫn chưa được giải đáp ổn thỏa. Ai thực sự là người ra lệnh giết TT Diệm, hay chỉ vì bức xúc hay thù cá nhân mà Nguyễn Văn NHung giết TT . Thực sự Hoa Kỳ đã đồng ý với việc đảo chánh ông Diệm nhưng theo 1 số tài liệu giải mật gần đây cho thấy TT Kennedy không có ý định giết TT Ngô Đình Diệm mà chỉ muốn loại bỏ ông khỏi vai trò lãnh đạo và cho ông lưu vong . Nhưng kết quả thực sự đã ngoài tính toán của người Hoa Kỳ . Có lẽ quan niệm của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng là đánh rắn phải đánh dập đầu vì sợ sau này sẽ bị hậu họa .Chúng tôi ( người viết TMH) có 1 tham vọng là sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng sâu rộng vấn đề này và sẽ có 1 quyển sách hoàn chỉnh về cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 . Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin trình bày 1 số tài liệu có được hiện tại ( chắc chắn sẽ thiếu sót vì thiên kiến, thiên vị …) để rộng đường dư luận . TRước hết chúng tôi xin xác định rõ là cá nhân chúng tôi là 1 kẻ hậu sinh ( sinh ngày 25 tháng 12 năm 1970) và là 1 Phật Tử thuần thành trong 1 gia đình Phật Giáo . Những tài liệu quý vị đọc sau đây không thể hiện quan điểm cá nhân của chúng tôi mà chỉ có giá trị tham khảo ( Như đã thưa chuyện, chúng tôi đang làm 1 cuộc nghiên cứu chi tiết tổng thể, đầy đủ, sâu rộng về sự kiện này và sẽ trình bày trong 1 quyển sách với tất cả các dẫn chứng, nhân chứng và phân tích, nhận định ) Trong phạm vi bài viết này chỉ có ý nghĩa mở đường dư luận, góp ý để chúng tôi hoàn thiện bộ sách nghiên cứu lịch sử về ngày 1 tháng 11 năm 1963 này .
***
Nhớ ngày 1-11-1963: Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Ông Ngô Đình Diệm 
Tác Giả Phan Đức Minh
  3- Ai ra lệnh giết Ông Ngô Đình Diệm & Tại Sao?
1- Cuộc đảo chánh thực sự bùng nổ
Ngày 1–11– 1963, quân đảo chánh bao vây dinh Tổng Thống (là dinh Gia Long vì dinh Độc Lập đang sửa chữa). 
 
Lúc ban đầu, hai ông Diệm và Nhu vẫn còn yên trí rằng đây là “Kế hoạch chống đảo chánh – Plan of Countercoup” cuả ông Nhu và tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Đoàn 3  (Commander of the 3rd Army Corps) đã hoạch định trước đó để “dập luôn”âm mưu đảo chánh, đồng thời bắt hết Bộ Chỉ Huy cuả lực lượng này (Diem and Nhu at first believe the attack to be opening of  a Countercoup engineered by Nhu and General Ton That Dinh, 3rd Army Corps Commander…). Thế nhưng vào phút chót, các tướng đảo chánh đã liên lạc, thuyết phục tướng Đính đồng thời “dúi nhẹ”cho Tướng Đính một mớ đô la, (đô la Mỹ chớ không phải đô … Hồ đâu, mà giá trị cuả năm 1963 đó). Thế là xong! Tướng Đính thấy rằng tình thế đã đến nước này thì… lượm  đô cuả Cabot Lodge lợi hơn, khôn hơn. Nếu chống lại thì bắt buộc con cáo già Cabot Lodge, bọn CIA và đám cầm đầu đảo chánh cũng phải bằng mọi cách, xoá sổ luôn cả mình mà thôi, dù cho tướng Đính nắm quân rất mạnh và xưa nay tướng Đính được coi là 1 Tướng gan lì, đánh giặc thì tướng cộng sản cũng phải nể.  Thế mới hay “có tiền mua tiên cũng được – A golden key opens all doors” là thế đó! Cabot Lodge khỏi cần dùng đến Binh Pháp Tôn Tử, Clausewitz, Thành Cát Tư Hãn, Napoléon … chi cả. Cứ sài binh pháp cuả Đại Danh Tướng Đô La  là ăn chắc, đánh đâu thắng đó, thành quách nào cũng tan.  Hai ông Diệm và Nhu hết còn trông cậy vào ai được nũa! Tứ bề thọ địch mất rồi! Hai ông đành tính chuyện thoát thân…  
 
 
Chừng 8 giờ 00 tối ngày 1-11- 1963, ông Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám Đốc Thanh Niên (được coi là can đảm, có nghĩa, có tình đối với ông Diệm) lái chiếc xe nhỏ Citroen 2 chevaux, theo lối cổng đường Pasteur, vào dinh Gia Long. Hướng này bỏ trống vì bên trong không còn sức kháng cự của Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống nữa cho nên bên ngoài, quân đảo chánh không cần kiểm soát chặt chẽ, chỉ cần đợi ông Diệm tuyên bố đầu hàng hay tới giờ G, giờ H  thì vô bắt mà thôi. Chủ quan thiệt!   
 
Từ dưới đường hầm bí mật (lo xa từ trước rồi) dinh Gia Long, ông Diệm cùng ông Nhu lên xe do Cao Xuân Vỹ lái, có sĩ quan tuỳ viên, Đại Úy Đỗ Thọ xách cặp đựng giấy tờ, tài liệu đi theo. Cao Xuân Vỹ lái xe vào Chợ Lớn, tới nơi đặt trụ sở Tổng Nha Thanh Niên Cộng Hoà cuả Vỹ thì Trung Tá Phước, Phó Đô Trưởng Nội An, lấy xe Desoto đón 2 ông Diệm và Nhu, đem theo một vài vệ sĩ thân tín, chạy tới nhà Mã Tuyên, một Bang Trưởng người Hoa Kiều và là một Thủ Lãnh Thanh Niên Cộng Hoà, được Vỹ tin cậy.  Qua đêm trời gần sáng, ông Diệm hỏi Mã Tuyên  coi có nhà thờ công giáo nào ở gần đấy thì đưa ông tới. Đoàn tuỳ tùng đưa 2 ông Diệm và Nhu đến nhà thờ Cha Tam, là nhà thờ cuả đa số là người Hoa ở vùng này. 
 
2- Ai ra lệnh giết ông Diệm?
 
Nhiều người, kể cả nhiều người Mỹ cũng bảo “Mỹ, Cabot Lodge không ra lệnh giết thì bố ai dám giết Ông Diệm!” Vậy mà không phải vậy đâu! Tướng Trần Văn Đôn  có lần nói: Tướng Minh ra lệnh giết bằng cách ra mật hiệu cho Đại Úy Nhung, cận vệ(bodyguard), tuy trong Hồi Ký viết bằng Việt Ngữ, Tướng Đôn nói là không biết. Trong Hồi Ký viết bằng Anh Ngữ và trong 1 cuộc phỏng vấn, Tướng Đôn lại quả quyết là Tướng Minh ra lệnh giết.
 
Trong sách của cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa, có viết: Có người hỏi thẳng Tướng Minh  “Có phải ông ra lệnh giết 2 Ông Diệm và Nhu không?” Tướng Minh trả lời “Muốn hiểu sao thì hiểu!“. Theo Bà Ellen J. Hammer, người quen biết rất nhiều với các nhân vật quan trọng ở Miền Nam, trong cuốn”A Death in November “, có nói: Sau khi tình hình đã thay đổi nhiều trong liên hệ của các Tướng Lãnh, năm 1971 Tổng Thống Thiệu đã nói thẳng “Tướng Big Minh là người ra lệnh giết 2 Ông Diệm và Nhu”.
 
Cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh, hồi cuối năm 2001, tại Orange County, đã trả lời nữ Phóng Viên truyền hình Thanh Thúy hỏi về cái chết của hai  Ông  Diệm và Nhu “Dương Văn Minh ra lệnh giết 2 ông Diệm và Nhu  vì tư thù…”Riêng  kẻ viết bài này đã nhiều lần viết  “Tướng Dương Văn Minh ra mật  lệnh cho Đại Úy Nhung, cận vệ, phải giết cả 2 Ông Diệm và Nhu“. Bây giờ ta coi tiếp.
 
Ngày 2 – 11 – 1963: Vào khoảng 6 giờ 00 sáng, ông Diệm bắt đầu điều đình với các Tướng đảo chánh bằng cách điện thoại cho Tướng Trần Thiện Khiêm, yêu cầu thông báo cho các Tướng đảo chánh là muốn nói chuyện với Tổng Thống về tình hình đất nước thì cho người tới gặp Tổng Thống tại nhà thờ Cha Tam, Tổng Thống đang làm Lễ tại đây.
 
Các Tướng đảo chánh liên lạc ngay với Cabot Lodge và bảo đảm với Cabot Lodge là tính mạng cuả ông Diệm sẽ được an toàn (At about 6:00 a.m. Diem begins negotiating with the Generals, Who have assured that Diem’s life will be spared.) Tại sao các Tướng đảo chánh lại phải cam kết với Cabot Lodge là bảo toàn tính mạng cho ông Diệm?   Vì Cabot Lodge không cho lệnh giết, trái lại khi chi tiền, còn yêu cầu các Tướng đảo chánh không được giết ông Diệm. Thế mà cuối cùng ông Diệm lại bị giết mới thật là rắc rối khó hiểu. Những điều khó tin lại hay có thật! 
 
A.- Ông Kennedy có ra lệnh giết ông Diệm không? Không!  Vì trước khi cuộc đảo chánh xẩy ra, ông Kennedy đã  gửi điện văn khẩn cấp cho Cabot Lodge, ra lệnh liên lạc ngay với các Tướng đảo chánh hoãn cuộc đảo chánh lại kia mà! (President Kennedy cables Lodge  urgently to ask the Generals to postpone the coup …) Ông Diệm còn lãnh đạo miền Nam thì ông Kennedy còn hi vọng ngăn chặn cộng sản hữu hiệu tại vùng này theo chính sách ngăn chặn cộng sản  (Containment Policy against the Communism) cuả Mỹ đã áp dụng trên toàn cầu, kể từ sau Thế Chiến thú 2. Mất ông Diệm, ông Kennedy quả thực không tìm ra nhân vật nào khác ở miền Nam có khả năng lãnh đạo và chống cộng sản tốt hơn, giỏi hơn ông Diệm.  Chẳng vậy mà khi nghe tin ông Diệm bị giết chết, ông Kennedy đã vô cùng sững sờ, hoảng hốt   (President Kennedy is  extremely  shocked  at the news of Diem’s death…). Ý chí bám víu gượng gạo vào cái “vũng lầy Việt Nam – the Vietnam Morass” cuả ông Kennedy đến đây kể như hoàn toàn rã rời. 
 
Giết chết ông Diệm, nắm được chính quyền rồi thì họ lại chẳng biết làm gì cả. Họ chỉ làm được có mỗi một việc là cho mở lại các vũ trường, những chốn ăn chơi đốt tiền, đốt bạc, ăn chơi đĩ điếm.  Có thế thôi! Ở các thành phố thì càng thêm rối loạn, mất an ninh, trật tự, tranh giành quyền lực để đưa đến cuộc  Chỉnh Lý (Governmental readjustment), thực ra là một cuộc đảo chánh khác (another coup d’état) cuả Tướng Nguyễn Khánh  sau đó không lâu. Ở thôn quê thì coi như bỏ ngỏ, mặc cho cộng sản muốn làm chi thì làm vì hệ thống ấp chiến lược một công trình xây dựng cuả ông Nhu, tuy không hoàn hảo, nhưng đã làm cho cộng sản thực sự mất đi một sức mạnh từ cơ sở nông thôn, khó tuyển được quân, thu gom thóc luá lương thực…khó thực hiện được kế hoạch bao vây và tiêu diệt các thành thị cuả miền Nam. Ông Diệm bị giết, là bọn tài phiệt quốc tế buôn bán chiến tranh vui mừng, vì sẽ được tự do buôn bán chiến tranh trên xương máu cuả các chiến binh Mỹ  cũng như Việt Nam Cộng Hoà và cộng sản, luôn cả dân chúng 2 miền Nam, Bắc. Chúng sẽ 1 tay đẩy cho quân Mỹ đánh nhau với cộng sản, tiêu thụ cả núi, cả biển tiền bạc, quân nhu, quân dụng, vũ khí đắt tiền nhất  và cả trăm thứ bắt buộc phải có cho đạo quân viễn chinh dự trù có thể lên đến hơn nưả triệu người, từ bên kia bán cầu, kéo sang đất nước Việt Nam nhỏ bé để đánh nhau theo kiểu quân đội nhà giầu. Còn tay kia chúng nó sẽ lén lút hoặc công khai buôn bán, làm ăn với Liên Sô, với tất cả khối cộng sản trên thế giới bằng những vật liệu, món hàng, mà sau đó biến thành phương tiện chiến tranh và lại chạy sang quân cảng Hải Phòng hay sân bay Hà Nội để cho quân đội cộng sản dùng những thứ đó mà giết lính Mỹ trên chiến truờng Việt Nam (By sending his men to fight in Southeast Asia, President Johnson seemingly recognized communism as an enemy. However, he made agrements to sell or give the Soviet Union and her communist satellites hundreds of millions of dollars worth of food, electronic computers, chemical plants, oil refinery equipment, airborne radar apparatus, jet aircraft engines, machine tools for $800-million auto assembly plant and military rifles…). Toàn những thứ để cho quân cộng sản giết lính Mỹ tại chiến truờng Việt Nam không hà! Ông Diệm bị giết rồi thì ông Kennedy liền nghĩ ngay đến việc rút chân ra khỏi vũng lầy Việt nam càng sớm càng tốt, nếu không muốn phải chờ đến lúc Liên Sô, Bắc Kinh cùng với Hà Nội thực sự đánh gục Hoa Kỳ trên chiến truờng này.
 
Ông Kennedy cho lệnh thực hiện gấp kế hoạch rút Sĩ Quan cố vấn, huấn luyện và các chuyên viên Mỹ về nước… Ông Kennedy quên rằng Kế hoạch buôn bán chiến tranh Việt Nam  cuả”chúng nó”đã sẵn sàng rồi mà nay Ông lại định phá đám chúng nó hay sao? Bắt buộc chúng nó phải xoá sổ luôn cả Ông, mặc dầu Ông là Tổng Thống Hoa Kỳ.  Mới kéo được về nước 1,500 cố vấn, chuyên viên thì 20 ngày sau, kể từ khi Ông Diệm bị giết ở Việt Nam, thì chính Ông Kennedy, Tổng Thống thứ 35 cuả Hoa Kỳ cũng bị bắn chết tại Dallas, Tiểu Bang Texas cuả chính đất nước Ông. Chánh phạm (principal) trong vụ bắn chết Ông Kennedy sau đó cũng bị giết luôn (tương tự như Đại Uý Nhung bắn chết Ông Diệm) để thủ tiêu chứng nhân lịch sử. Trước khi đi Dallas, người bạn thân cuả Ông Kennedy, một Giáo Sư Đại Học đã khuyên “… Tổng Thống không nên đi chuyến này. Ở đó nguy hiểm lắm!”Ông Kennedy đã trả lời”Nếu chúng nó đã định giết tôi thì không giết tôi ở đó, chúng nó cũng sẽ giết tôi ở nơi khác. Nếu tôi không dám đi, truớc hết, tôi là một kẻ hèn. Mà Kennedy không được phép là một kẻ hèn! “  Vậy là Ông Kennedy không muốn đảo chánh, lật đổ Ông Diệm, chớ chưa nói chi đến việc ra lệnh giết Ông Diệm!
 
 B.- Cabot Lodge có ra lệnh giết Ông Diệm không?  Cũng không! Tại sao?  Ngay lúc quân đội đảo chánh đã bao vây chặt chẽ dinh Gia Long, nơi 2 Ông Diệm và Nhu đang ở, Thủy Quân Lục Chiến và nhẩy Dù cùng nhiều đơn vị Bộ Binh đã kiểm soát hết các địa điểm kháng cự của phía quân đội bảo vệ cũng như trung thành với Ông Diệm, đường điện thoại duy nhất còn lại từ bên ngoài liên lạc vào hầm dinh Gia Long reo lên. Một sĩ quan cầm ống nghe rồi đưa cho Ông Diệm vì đầu dây đằng kia chính là Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge. Ông Diệm nghe xong rồi trả lời bằng tiếng Pháp:”Non, je refuse, mais merci quand même de votre charité – Không, tôi từ chối, nhưng cũng xin cảm ơn lòng nhân đức của Ông). Ông Diệm bỏ máy rồi quay sang nói với Ông Nhu”Cabot Lodege vừa kêu máy, đề nghị chúng ta ra đi. Ông ta hứa bảo đảm với các Tướng Lãnh để cho chúng ta ra đi an toàn. Họ dành sẵn cho chúng ta một phi cơ, nhưng tôi đã từ chối “.  Ngoài ra, ta còn biết rằng:
 
Thứ nhất: Nhiệm vụ cuả Cabot Lodge chỉ là làm sao thay thế Ông Diệm bằng người cầm quyền khác, biết tuân theo ý muốn cuả giới tài phiệt Mỹ, Ô Kê cho chúng đổ quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, đánh nhau với cộng sản 5, 10 năm thôi. Ai cũng biết mọi tội vạ cuả vụ đảo chánh này đổ hết lên đầu Cabot Lodge rồi. Nếu Cabot Lodge cho giết ông Diệm, biết đâu, lại chẳng có người, vì sót thương Ông Diệm, vì căm thù Cabot Lodge, vì tự ái dân tộc, mà liều thân, thí mạng, tặng cho Cabot Lodge 1 trái lựu đạn, 1 quả mìn trên đường xe chạy, hay cho luôn 1 băng tiểu liên vào đầu, bể sọ ra thì cũng rồi đời. Cabot Lodge dư biết rằng: khi người ta đã liều mạng để giết ai, thì giết 1 Tổng Thống, kể cả Tổng Thống Mỹ, người ta cũng dư sức làm được. Trên thế giới này, Tổng Thống, Thủ Tướng bị giết đầy ra đó! Chớ cỡ Cabot Lodge, 1 anh Đại Sứ còm ở cái xứ chiến tranh, loạn lạc liên tu bất tận này thì việc giết đâu có khó! Con cáo già Cabot Lodge đâu có dại gì mà làm thêm cái việc vô ích, không cần thiết, thêm nhiều oán thù đó! 
 
Thứ hai:  Cabot Lodge dù sao đi nưã, lúc này cũng chỉ là 1 anh Đại Sứ cuả Mỹ tại Việt Nam, dưới quyền Ông Kennedy. Cabot lodge đã nhiều phen qua mặt Ông Kennedy trong vụ đảo chánh này rồi. Ông Kennedy đâu có ngu, có đần. Vậy thì khi Ông Kennedy ra lệnh cho Cabot Lodge”Khoan! Hãy ngưng ngay kế hoạch đảo chánh!”mà Cabot Lodge vẫn cứ phe lờ  đã là 1 chuyện đáng để Ông Kennedy trừng trị  về tội bất tuân thượng lệnh. Ông Kennedy cũng biết bực mình, mất mặt về hành động cuả Cabot lodge, dám khinh thường Tổng Thống lắm chớ! Cabot Lodge dư thưà khôn ngoan để biết đâu là cái giới hạn cuả thái độ khinh thường Ông Kennedy để mà dừng lại đúng mức. Vượt qua giới hạn đó, Ông Kennedy bắt buộc phải có thái độ để bảo vệ uy quyền cuả Ông. Thế cho nên Cabot Lodge dại gì mà giết Ông Diệm để chọc giận Ông Kennedy thêm nưã!  Dại dột, vô ích! Ông Kennedy có đủ uy quyền để”đuổi cổ – kick out “  Lodge ra khỏi chức vụ Đại Sứ, lôi đầu về Mỹ trị tội kia mà! Cabot Lodge khôn lắm, không dại gì đi làm cái việc vô ích, chẳng lợi lộc gì. 
 
Thứ ba:  Khi phác họa cuộc đảo chánh, Cabot Lodge đã họp các Tướng Lãnh phản loạn lại, khuyến khích, chi tiền và bắt các Tướng phải cam kết là không được giết Ông Diệm! Bởi cái chỗ đó cho nên ở trên có nói: Khi Ông Diệm liên lạc điện thoại với Tướng Trần Thiện Khiêm,tỏ ý muốn gặp các Tướng đảo chánh thì Bộ Chỉ Huy đảo chánh đã tức tốc liên lạc ngay với Cabot Lodge và cam đoan với Cabot Lodge là tính mạng cuả Ông Diệm sẽ được an toàn (… Diem begins negotiating with the Generals, who have assured that Diem’s life will be spared…).  Vậy thì Cabot Lodge đâu có muốn, đâu có ra lệnh giết Ông Diệm!  Lodge chỉ phải … tạ tội, thanh minh thanh nga với ông Kennedy bằng 1 điện văn, trong đó có đoạn “… We could neither manage nor stop the coup once it got started… It is equally certain that the coup  would not have happened  as it did without our preparation…” (có cả tội cuả Ngài ở trong đó đấy, xin Ngài chớ buồn làm chi…).
 
Tại sao Tướng Dương Văn Minh phải ra lệnh cho Đại Úy Nhung giết  2 Ông Diệm và Nhu? 
 
Lịch Sử cũng như Quân Sử cuả Hoa Kỳ đã ghi chép rằng “… Finally an US-built M – 113 armored personnel carrier is sent to pick up Diem and Nhu up from Francis Xavier Church in Cholon. General Minh’s bodyguard, Captain Nhung, murders Diem and Nhu on their way to staff headquarters, at Minh’s orders.” Chẳng lẽ những sử gia viết lịch sử và quân sử Hoa Kỳ lại hèn nhát đến mức độ không dám nhận rằng Ông Kennedy, Cabot Lodge đã ra lệnh giết Ông Diệm để rồi viết sách, đổ đại cho Dương Văn Minh làm cái việc này, và chỉ cho  Dương Văn Minh phải lấp lửng nói với đám Tướng Lãnh đảo chánh”Việc đã qua rồi, bới ra làm chi nưã!”mỗi khi Dương Văn Minh bị các Tướng này vặn hỏi”Tại sao lại giết Ông Diệm?”vì khi họp bàn với nhau, các Tướng Lãnh đều đồng ý với quan điểm cuả Cabot Lodge là phải bảo toàn tính mạng cho Ông Diệm, không được giết!  Chỉ tách Ông Diệm ra khỏi quyền lực, đưa đi sống lưu vong ở đâu đó, Đài Loan hay Thái Lan chẳng hạn. Thế là xong! Bây giờ câu hỏi là: Tại sao Dương Văn Minh phải ra lệnh giết Ông Diệm?  
 
 A.- Dương Văn Minh phải giết Ông Diệm  vì: Hai Tướng Tôn Thất Đính  và Nguyễn Khánh, 2 Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, có quân rất mạnh trong tay,  chỉ  chịu theo phe đảo chánh vào phút chót, một cách bắt buộc. Nếu Ông Diệm còn, dù ở đâu đi nưã, Dương Văn Minh vẫn tin, vẫn sợ rằng trong tình thế lộn xộn, mà bắt buộc phải lộn xộn, 2 Tướng này có thể nhân danh quyền lợi quốc gia, dân tộc, không chấp nhận sự phản loạn lật đổ Ông Diệm, do tài phiệt quốc tế chỉ huy, đạo diễn, để quật lại phe đảo chánh thì Tướng Minh cũng ngán, cũng run lắm chớ! Vậy cứ giết quách Ông Diệm là xong! Khỏi lo! Tướng Minh phải cho Đại Úy Nhung, sĩ quan cận vệ, lúc nào cũng luôn ở sát bên mình, đi lo vụ giết này mới an tâm. Mà Đại Úy Nhung là một con người xuất thân  từ lính Commando của Pháp, khi trước, giết người xong, còn thích cắt đầu, xẻo tai đem về trình cho cấp chỉ huy của mình nữa mới ghê gớm, đúng là thứ ác quỷ, cuồng tín, say máu giết người.
 
B.- Tướng Dương Văn Minh phải giết Ông Diệm vì:  âm mưu đảo chánh đã quá rõ ràng, cơ quan Mật Vụ (Secret service) và Ông Nhu đã nắm hết mọi chi tiết trong tay. Ông Nhu  đã lập kế hoạch cùng với Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 (3rd Army   Corps Commander) bất thình lình tung ra 1 màn  “Chống đảo chánh –Countercoup”để nắm đầu hết trơn kia mà!  Dương Văn Minh là kẻ đứng đầu âm mưu đảo chánh, kể như đã leo lên lưng cọp rồi,với cái thế    “Trèo cao thì té nặng – The higher up, the greater the fall“, càng đầu trò thì càng to tội. Vậy mà Ông Kennedy lại cứ…thụt lui, bước tới, ba hồi đã ô kê, bốn hồi lại…sì tốp, âm mưu bại lộ hết trơn thì chỉ có nước chết với Ông Nhu và đám sĩ quan, quân đội còn thương mến, trung thành với Ông Diệm. Nguy hiểm quá! Ngộ lỡ ông Nhu và các Tướng Đính và Khánh nắm được đầu thì Tướng Minh chỉ có nước: bị tước hết binh quyền,  ra trước Toà Aùn Quân Sự Mặt Trận Vùng 3 Chiến Thuật (3rd Tactical Area’s Field Court Martial) để lãnh bản án tử hình. Rồøi Tổng Thống Diệm bác đơn xin ân xá. Cuối cùng thì Dương Văn Minh bị lôi ra pháp trường, hai tay bị trói giật cánh khuỷu vào cây cột, mắt bị bịt kín bằng miếng vải đen. Một tiếng hô chỉ huy và 1 loạt đạn cuả Tiểu Đội Hành Quyết (Executing squad) thi nhau xuyên thủng ngực, và Dương Văn Minh gục đầu, máu tuôn ra đầy ngực… Nghĩ đến đây là Dương Văn Minh bắt buộc phải chọn giải pháp”Giết ông Diệm!”Dương Văn Minh thuộc lòng câu “Cẩn tắc vô ưu – Safety first”hơn ai hết trong lúc này. Tướng Minh trông Sĩ Quan nào cũng đáng nghi ngờ, không tin ai được bởi vì theo Văn Hào  Shakespeare thì  “Sự nghi ngờ luôn ám ảnh tâm trí kẻ phạm tội; Tên ăn trộm sợ rằng ở mỗi bụi rậm đều có 1 viên cảnh sát – Suspicion always haunts the guilty mind; The thief doth fears each bush a police officer.”  Bắt được hai Ồng Diệm, Nhu, cứ giết quách đi là chắc ăn, khỏi lo! 
 
C.- Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh giết hai Ông Diệm và Nhu  vì Tổng Thống Kennedy đã ra lệnh cho CIA, Cabot Lodge”Không can thiệp chi tiết vào kế hoạch đảo chánh, cứ để các Tướng tùy theo tình hình thực tế mà hành động.”Dương Văn Minh tự diễn dịch    “Người lãnh đạo cao nhất nước Mỹ đâu có cấm Tướng  Minh giết Ông Diệm khi ra lệnh này!”Xử lý hành động tuỳ theo tình hình kia mà! 
 
D.- Tướng Dương Văn Minh đã cho lệnh mật để Đại Uý Nhung giết Ông Diệm  vì khi bàn thảo việc đảo chánh, Cabot Lodge chi tiền và yêu cầu các Tướng không được giết ông Diệm chẳng qua là vì Cabot Lodge không muốn chọc giận ông Kennedy, và qua mặt Tổng Thống nhiều quá. Nay Tướng Minh có nêu ra: vì tình trạng hỗn loạn, vì vấn đề an nguy cuả đại cuộc, cuả chính sinh mạng mình, tức là coi như ở vào tình trạng… In case of  absolute necessity, in case of  riots, hay nói theo kiểu Tây là en cas  de situation troublée… thì cứ coi như  việc giết ông Diệm cũng  … huề cả làng, mọi tội xí xoá… thì ông Kennedy cũng… đành huề thôi. Còn đối với Cabot Lodge, con cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, người đã quá quen thuộc với những vụ chết chóc trong nghề đảo chánh   thì… tiền đã chi cho cướp, chia nhau hết rồi, Tướng Minh có giết 1 ông Diệm, chớ giết đến 10 ông Diệm cũng…  sức mấy mà Cabot Lodge đòi tiền lại được! Chẳng lẽ lôi Tướng Minh ra mà đập, mà kiện hay sao? Kiện ở đâu? Có điều Tướng Minh không dám nói thẳng, nói thực  vấn đề với các Tướng Lãnh khác, sau khi sự việc đã xong, và Tướng Minh đã trở thành nhân vật lãnh đạo số 1 cuả quốc gia, đã ở vào địa vị coi như Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách mạng (Chairman of  the Revolutionary    Military Council)  thì Tướng Minh không  thể được xếp vào loại người”Có gan ăn cướp, phải có gan chịu đòn – As you brew, so must you drink “, không xứng đáng với thái độ cuả một Tướng Lãnh đã từng nhiều phen cầm quân đánh giặc và lúc này đã ở vào địa vị cao nhất trong xã hội Miền Nam. Ông Diệm có coi thường và không trọng dụng cũng là phải.Trong khi đó, ông Diệm lại trọng dụng những Tướng cứng đầu, dữ dằn, những Sĩ Quan cao cấp,  đã có thời còn  là Đại  Tá    (Colonel), còn là Chuẩn Tướng  (Sub-brigadier General) mà đã dám cầm “Gậy Chỉ Huy – Command stick”mà Tây thì kêu là”Bâton de Commandement”gõ vào đầu Sĩ Quan Cố Vấn cuả Tây, cuả Mỹ và quát   “Không được vô lễ đối với Sĩ Quan Việt Nam!”khi những tay Cố Vấn này muốn làm … ông nội người ta, tỏ thái độ vô lễ đối với Sĩ Quan Việt Nam ngay trước mặt các vị Sĩ Quan Việt Nam cầm  Gậy Chỉ Huy  này.
                  
3.- Sau cái chết của Ông Ngô Đình Diệm: 
 
A.- Tổng Thống Kennedy kinh hoàng, cho rút sĩ quan, cố vấn, chuyên viên Mỹ về nước, tính chuyện bỏ cuộc. Kết quả ông Kennedy cũng bị bắn chết 20 ngày, sau ông Diệm, để cho ông Phó Lyndon B. Johnson lên thay, và quân tác chiến Mỹ ào ạt đổ vào Việt Nam và cuối cùng cũng như người Pháp…quân đội Mỹ ra đi không kèn, không trống. Về nước chẳng ai thèm chào mừng, đón rước, chẳng có lấy một vòng hoa chiến thắng, mà còn bị biểu tình sỉ vả, mặc dầu đã có gần 60 ngàn quân nhân Mỹ tử trận tại chiến trường, mấy ngàn người còn ghi mất tích, và cả triệu người Mỹ phải gánh chịu chung niềm đau tủi, mất mát, đui què, mẻ sứt hay điên khùng…Đau thật! Lịch sử và Quân Sử Hoa Kỳ đã phải ghi”Lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội bách chiến bách thắng của Hoa Kỳ đã thua trận một cách đau đớn ê chề trên chiến trường Việt Nam – The first time in the American  History, the unvanquisable armed forces of the United States lost  ignominiously the war in Vietnam battle field…”
 
 B.- Ông Diệm chết đi thì Miền Nam như rắn không đầu, cá mè một lưá, càng thêm hỗn loạn, rồi Tướng Khánh làm cuộc   “Chỉnh Lý”nhưng thực ra là cuộc đảo chánh khác để”hốt”các Tướng đã đảo chánh ông Diệm, nhốt đầu vào 1 chỗ (Tướng Minh được tha vì thuộc loại to đầu mà dại, không đáng lo, khỏi cần nhốt) cho ngồi chơi mà ngẫm nghĩ sự đời đen bạc, phản phúc, và thế nào là”Làm điều lành, Trời báo cho bằng phước; Làm điều dữ, Trời báo cho bằng họa – Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc; Vi bất thiện giả, thiên báo chi dĩ họa”hay nói theo Tây thì       “On récolte  ce qu’on a semé “, còn nói theo kiểu Mỹ và  Ăng-Lê thì             “Who sows the wind will reap the whirlwind”Tất cả giống nhau: “Gieo gió thì gặt bão “. Tiếp theo là những ngày tháng tối đen 1966, Miền Nam lại hỗn loạn đấu tranh, cũng phát xuất từ Huế, với cái vụ Tướng Nguyễn Chánh Thi, người đã một phen đảo chánh không ra cái gì cả vì chỉ là một sự thử nghiệm của CIA, nhưng lan vào đến Đà Nẵng thì  Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Không Quân râu kẽm, một phật tử chính hiệu, đưa Quân Đội và Quân Cảnh từ trong Nam ra dẹp hết trơn, nhốt đầu những tay lãnh đao. Thế là hết đấu tranh! 
 
C.- Ông Diệm chết đi thì  Hồ Chí Minh  ở Hà Nội không còn đối thủ, biết trước tình thế, bèn lên đài phát thanh Hà Nội hiệu triệu quốc dân đồng bào: “Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta sẵn sàng chiến đấu chống Mỹ cứu Nước trên khắp các mặt trận của ba miền đất nước! Quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng sẽ đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược không những trên Quê Hương, Tổ Quốc Việt Nam, mà còn đánh thắng đế quốc Mỹ ngay trên đường phố, tại các trường Đại Học cuả chúng nưã!  Kháng chiến nhất định thắng lợi! Thống Nhất, Độc Lập nhất định thành công!”Theo Giáo Sư Francis Xavier Winters, năm 1999 viết trên tạp chí”World Affairs”của Ấn Độ, có nói là: Sau cái chết của Ông Diệm, Hồ Chí Minh lại còn lên giọng trịch thượng, nói với Wilfrid Burchett, một ký giả cộng sản hạng nặng, là: “Tôi không thể ngờ là tụi Mỹ lại ngu đến thế!”Rồi Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp gặp McNamara  ở Hà Nội tháng 11 – 1995, thì nói: “Chính sách của người Mỹ sai lầm hết chỗ nói. Ngô Đình Diệm là người có tinh thần quốc gia rất mạnh. Không bao giờ Ông ta để cho người Mỹ giành lấy quyền điều khiển chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.. Người Mỹ đã làm điều đó bất chấp sự phản đối của Ông Diệm để rồi mua lấy một thất bại thảm khốc. Ông Diệm chết thì cũng chấm dứt sự hiện diện quân sự của người Mỹ tại đây một cách sớm hơn”. Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”nói với phóng viên Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Cộng Sản Hà Nội: “Sự lật đổ Ngô Đình Diệm là một món quà Trời tặng cho chúng tôi.”Trần Nam Trung, Phó Chủ Tịch Mặt Trận tuyên bố: “Đế Quốc Mỹ chơi đòn đổi ngựa giũa dòng, nhưng chúng sẽ không bao giờ tìm được người chống Cách Mạng hiệu quả  hơn Ngô Đình Diệm “
 
D.- Ông Diệm chết đi thì Liên Sô, thành luỹ cuả Phong trào cộng sản thế giới (International movement of communism’s  Stronghold)  vô cùng mừng rỡ vì Liên Sô sẽ dứt điểm Việt Nam trong một ngày không xa để chuyển  “Nỗ lực đấu tranh chống chủ nghiã tư bản đế quốc – Struggling efforts against Capitalism and Imperialism “  sang những vùng khác ở Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh.  Chẳng vậy mà tờ báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận và đấu tranh chính thức cuả Đảng Cộng Sản Liên Sô lại dành chỗ trang trọng nhất để phô bầy sự phấn khởi trước cái chết cuả ông Diệm và khẳng định rằng “… Bọn tay sai bù nhìn của Mỹ đã nắm được chính
 
quyền”để tạo thêm sự dễ dàng cho cộng sản Hà Nội chiến thắng mau lẹ hơn …- The Soviet newspaper Izvestia expresses satisfaction at Diem’s end while asserting that American puppets have come to power…”
 
E.-  Ông Diệm chết đi, quả thực không có người thay thế được. Nam Việt Nam trên đường tuột dốc và đi  đến sự sụp đổ. Kẻ có lợi là cộng sản Hà Nội, phong trào cộng sản thế giới, bọn tài phiệt quốc tế. Còn bọn Tướng Lãnh đảo chánh thì chỉ được lợi về … đô la, và sau này tha hồ tham nhũng, hối mại quyền thế, buôn quan, bán lính, nhưng không thoát khỏi cái nhục chung cuả nhân dân và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, khi  mất nước, phải bỏ Tổ Quốc ra đi, có khi với trăm ngàn khổ ải, nhục nhằn, hay phải sống đọa đầy nhục nhã hơn cả súc vật trong những trại tù cải tạo, dưới bàn tay sắt máu cuả bọn cộng sản Hà Nội kiêu binh thắng trận, vô cùng dã man, tàn bạo, ác độc hơn cả loài sa-tăng quỷ dữ…
San Diego, California
 
 
Tài liệu tham khảo:
•    The Death of A Nation.-  John A. Stormer.- Liberty Bell Press.- Missouri, 1978.
•    The World Almanac of  The Vietnam War.- John S. Bowman (General Editor).- Bison Books Corp.-
New York, 1985.
•    Vietnam: The History & The Tactics.-  Ahsley Brown & Adrian Gilbert.- Orbis Publishing Limited.- 
London, 1982.
       *  The Final  Days.- Bob Woodward & Carl Bernstein.- The Hearst Corp.- New York,1976.
       *   Henry Kissinger Diplomacy.- Simon & Schuster. –  New York, 1994.
•    Kennedy. – Theodore Sorensen.- Harper &  Row.-  New York, 1965.
•    A Book of  U.S. Presidents.- George Sullivan.- Scholastic Incorporation.-  New York, 1984.
***
Tài Liệu của Wikipedia
Cuộc đảo chính tại Nam Việt Nam năm 1963 là cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm do các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa thực hiện với sự làm ngơ của Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Cuộc đảo chính đã giết chết anh em tổng thống là Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ, chuyển vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sang Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu.
Nguyên nhân xảy ra cuộc đảo chính 1963 được quy bởi chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm tham nhũng, độc tài, gia đình trị và thực hiện chính sách đàn áp Phật giáo. Một lý do khác được quy kết nữa là vì chính phủ của ông chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Độc tài, gia đình trị
Kể từ khi về nước chấp chính, Ngô Đình Diệm đã được sự ủng hộ của chính phủ Mỹ, đã tập hợp được nhiều đồng minh để lần lượt dẹp trừ các thế lực chống đối của cộng sản, giáo phái và các đảng phái. Tuy nhiên, khi chính sự đã ổn định, tổng thống Diệm đã dần trở mặt với các thỏa hiệp ban đầu với những người đã ủng hộ ông và giúp ông giữ được ngôi vị tổng thống. Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Ngô Đình Diệm chủ trương kềm chế các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ, Pháp. Điều này giúp ông có thể tập trung sức mạnh để đương đầu với đối thủ mà ông cho là nguy hiểm nhất: những người Cộng sản. Các tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân,… các chính khách như Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu,… kể cả nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cần Lao như Trần Chánh Thành, Võ Văn Trưng,… lần lượt đều bị xa lánh và tước bỏ ảnh hưởng. Trong nền Đệ nhất Cộng hòa, ngoài tổng thống Diệm, quyền hành bị tập trung vào trong tay một số người thân trong gia đình ông như:
Ngô Đình Nhu với chức vụ “Cố vấn Chính trị” là bộ não của chế độ, nơi khai sinh và điều khiển tất cả mọi sách lược của quốc gia. Tuy là Dân biểu nhưng không mấy khi đặt chân đến Quốc hội để làm trách nhiệm dân cử, mà chỉ ngồi tại dinh Tổng thống để ra chỉ thị cho Quốc hội làm luật theo ý của anh em ông ta.
Trần Lệ Xuân – phu nhân của Ngô Đình Nhu, được coi là Đệ nhất Phu nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa, là một trong các nhân vật then chốt của chính quyền (a key figure in the Diem regime) với những uy quyền to lớn . Cũng là một dân biểu như chồng, nhưng bà thường xuyên xây dựng những đạo luật của riêng mình và “ép” Quốc hội phải thông qua.
Ngô Đình Cẩn – em trai của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu – tự xưng là “Cố vấn Lãnh đạo các Đoàn thể Chính trị miền Trung và miền Cao Nguyên”. Trên thực tế, ông nắm hết mọi quyền hành nhất là quyền bổ nhiệm nhân sự, còn các đại biểu chính phủ và tỉnh trưởng chỉ là những viên chức thừa hành mệnh lệnh của ông mà thôi.
Tổng giám mục Ngô Đình Thục không chính thức giữ một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tổng thống, đến các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Cộng hoà và các viên chức địa phương và trở thành một thứ cố vấn tối cao của chế độ.
Trong giai đoạn 1956-1959, khi những người Cộng sản còn hy vọng vào giải pháp Tổng tuyển cử, chưa coi bạo lực là biện pháp đấu tranh chủ yếu, chính phủ Ngô Đình Diệm đã lợi dụng tình hình để đàn áp họ, tuy chưa thể tiêu diệt hẳn nhưng tạm thời cũng chưa là mối lo trước mắt. Các cuộc cải cách xã hội cũng mang lại một số kết quả, tạo cho chính phủ Diệm một thế đứng tương đối vững.
Tuy nhiên, để chống Cộng có hiệu quả, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã tập trung quyền lực vào bản thân và các người em của mình đồng thời hạn chế các quyền tự do – dân chủ. Điều này không được những người đối lập tán đồng. Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị của Tổng thống. Mặt khác, sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ bắt đầu gây bất mãn trong quần chúng.
Từ cuối năm 1959, khi những người Cộng sản miền Nam, với sự cho phép của Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, dần xây dựng cơ sở và chuyển hướng từ đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang sang đấu tranh vũ trang với sự hỗ trợ của đấu tranh chính trị. Sự ổn định của chính phủ Ngô Đình Diệm bị thách thức nghiêm trọng, nhất là khi nổ ra Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối tháng 1 năm 1960, đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ.
Trước tình hình an ninh ở nông thôn ngày càng xấu đi do những người cộng sản miền Nam tăng cường hoạt động với sự chi viện của miền Bắc, trước việc chính phủ Ngô Đình Diệm tập trung quyền lực và hạn chế các quyền tự do – dân chủ để phục vụ mục tiêu chống Cộng quá lâu, các nhóm đối lập ngày càng kích động quần chúng phản đối chính phủ Diệm như là một chính phủ độc tài và gia đình trị. Nổi bật nhất là các vụ:
Sự kiện 18 chính khách có tên tuổi trong Ủy ban Tiến bộ và Tự do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn, ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đình Diệm độc tài vào ngày 26 tháng 4 năm 1960.
Vụ đảo chính bất thành của nhóm các sĩ quan do Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông cầm đầu vào ngày 11 tháng 11 năm 1960.
Sự kiện hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962.
Biến cố Phật giáo
Biến cố Phật giáo năm 1963 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc đảo chính cũng trong năm này.
Ngày 6 tháng 5 năm 1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống Quách Tòng Đức theo chỉ thị của tổng thống Ngô Đình Diệm đã gởi công điện số 5159 yêu cầu các địa phương xiết chặt quy định không được treo cờ tôn giáo ngoài khuôn viên cơ sở tôn giáo. Mặc dù trước đó trong các dịp lễ Ki-tô giáo, cờ Tòa thánh Vatican và cả cờ Phật giáo được treo tự do mà không bị chính phủ cấm đoán.
Ngày 7 tháng 5, trong lúc dân chúng Huế và Thừa Thiên sửa soạn làm lễ Phật Đản thì cảnh sát đến tận nhà buộc dân chúng phải hạ cờ Phật giáo. Nhưng sau đó Phật giáo và chính quyền đã đạt được thoả thuận cho phép treo cờ Phật giáo trong ngày Phật đản. Tuy vậy Phật giáo vẫn quyết định sẽ nhân cơ hội này đấu tranh chống chính quyền.
Ngày 8 tháng 5, tại lễ Phật đản ở chùa Từ Đàm, trong bài thuyết pháp, Thượng tọa Trí Quang, một trong các nhân vật có ảnh hưởng của Phật giáo miền Nam Việt Nam, người bị các nhà phân tích CIA mô tả là một kẻ mị dân, cực kì chống Công giáo, một người theo chủ nghĩa quốc gia cuồng tín, và một kẻ vĩ cuồng với mục tiêu tối hậu là thành lập ở Miền Nam một chế độ thần quyền Phật giáo chỉ trích chủ trương kỳ thị Phật giáo của chính quyền. Thượng tọa Trí Quang cũng có nhắc đến cờ Công giáo Vatican treo khắp đường phố vào các dịp lễ sao không cấm, mà lại cấm đúng vào ngày Phật Đản. Nhiều đoàn thể Phật tử yêu cầu chính quyền cho phát thanh lại bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang, nhưng Giám đốc Đài phát thanh Huế là ông Ngô Ganh không đồng ý vì băng chưa được kiểm duyệt, nên vài ngàn Phật tử kéo đến đài để trực tiếp yêu cầu. Sự việc đang giằng co thì khoảng 22h, ai đó đã quăng chất nổ, với sức nổ tương đương 5 kg TNT, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Chính quyền quy kết những người Cộng sản trà trộn quăng chất nổ giết người để gây xáo trộn, còn phía biểu tình thì kết án Thiếu tá Đặng Sỹ chính là người cho ném chất nổ và ra lệnh nổ súng để giải tán biểu tình. Ngay lập tức, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng cao và càng trở nên bạo động.
Hôm sau, vào ngày 9 tháng 5 năm 1963, hơn 10 ngàn người kéo đến tư gia Tỉnh trưởng Huế biểu tình và đòi hỏi 5 điểm sau đây:
Hủy bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo.
Phật giáo được quyền bình đẳng như Công giáo.
Không được đàn áp Phật giáo.
Phật tử được quyền thờ phượng tôn giáo của mình.
Chính quyền phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và phải trừng trị các người có trách nhiệm trong vụ bắn chết người trong ngày 8 tháng 5 năm 1963.
Ngày 15 tháng 5 năm 1963, một phái đoàn Phật giáo từ thành phố Huế vào Sài Gòn trình kiến nghị cho Tổng thống Ngô Dình Diệm. Ngô Đình Diệm đồng ý hầu hết các yêu sách và hứa sẽ điều tra.
Ngày 25 tháng 5 năm 1963, Tổng Hội Phật giáo Việt Nam và đại diện các tổ chức và môn phái Phật giáo khác liên kết thành lập Ủy ban Liên phái.
Ngày 28 tháng 5 năm 1963, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam lên tiếng kêu gọi biểu tình. Tại Huế, hàng ngàn tăng ni xuống đường.
Ngày 30 tháng 5, Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các tăng ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ, đồng thời 300 tăng ni biểu tình trước Quốc hội với những khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa mãn năm nguyện vọng của Phật giáo.
Ngày 2 tháng 6 năm 1963, tại Huế, 500 sinh viên biểu tình chống chính quyền kỳ thị Phật giáo. Sau đó cuộc biểu tình, biến thành bạo động, cảnh sát dùng chó, lựu đạn cay tấn công đoàn biểu tình, 67 sinh viên bị thương phải vào bệnh viện. Chính quyền ra lệnh giới nghiêm thành phố Huế.
Ngày 4 tháng 6 năm 1963, Ngô Đình Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Cho triệu hồi thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài Gòn.
Ngày 7 tháng 6 năm 1963, Trần Lệ Xuân – vợ của Cố vấn Ngô Đình Nhu – lên án là những vị lãnh tụ Phật giáo bị phe Cộng sản giật dây.
Sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức sau khi để lại lá thư tâm huyết :
“Tôi, pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ trì chùa Quan Âm Phú Nhuận, Gia Định.
 
Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyên thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.
 
Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:
 
Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.
Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng Ni Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ ác gian.
Cầu nguyện cho đất nước thanh bình quốc dân an lạc.
Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.
 
Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.
 
Thích Quảng Đức”
 
 
 
đã tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng Tám) và Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) ở thành phố Sài Gòn, đễ phản đối chính quyền kỳ thị Phật giáo. Hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong ngọn lửa bập bùng do Brown – phóng viên hãng tin Mỹ ABC thường trú tại Sài Gòn đăng tải các báo, làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam và thế giới. Cái chết của vị Hòa thượng này là ngọn lửa châm ngòi cho Phật giáo đấu tranh mạnh mẽ hơn.
Ngày 16 tháng 6 các tăng ni biểu tình trước toà đại sứ Mỹ đồng thời tại chùa Giác Minh hàng ngàn Phật tử tụ tập dự tang lễ Thượng Toạ Quảng Đức. Cuộc tụ tập biểu tình, có xô xát với cảnh sát, làm cho nhiều người bị thương, hàng trăm bị bắt.
Ngày 16 tháng 6 năm 1963, Uỷ ban Liên bộ và Uỷ ban Liên phái ra Thông cáo chung về việc giải quyết các nguyện vọng của Phật giáo.
Ngày 18 tháng 7 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi “quốc dân đồng bào ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của chính phủ trong vấn đề Phật giáo” và “quốc dân đồng bào từ nay sẽ khách quan phán quyết để có thái độ hành động, không để ai làm ngăn cản bước tiến của tân tộc trong nhiệm vụ diệt Cộng cứu quốc” được đài phát thanh phát lại nhiều lần.
Trong các Ngày 9 và 29 tháng 7 năm 1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, những cuộc tập họp của Phật giáo bị cản trở, một số tín đồ bị bắt và chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên tiếng phản đối Phật giáo.
Ngày 1 tháng 8 năm 1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia Broadcasting System, Hoa Kỳ), Trần Lệ Xuân tố cáo các lãnh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu chỉ là việc “nướng thịt sư” (barbecue a bonze).
Ngày 3 tháng 8 năm 1963, khi phát biểu tại lễ mãn khóa huấn luyện bán quân sự của Đoàn Thanh Nữ Cộng Hòa, Trần Lệ Xuân lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo. Lời lẽ của bà Nhu được thân phụ bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi là “thiếu lễ độ” đối với Phật giáo. Mấy hôm sau, bà Nhu bằng giọng gay gắt và chế giễu cho rằng dù bà có thiếu lễ độ đối với Phật giáo chăng nữa, thì có lúc cần phải thiếu lễ độ
Những lời phát biểu của Trần Lệ Xuân không những làm cho mối quan hệ giữa chính phủ Ngô Đình Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà còn làm cho cả những người dân bình thường cũng bất bình với chế độ. Sau những lời phát biểu của Trần Lệ Xuân, liên tiếp xảy ra nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.
Ngày 4 tháng 8 năm 1963, tại Phan Thiết (Bình Thuận), đại đức Thích Nguyên Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng.
Ngày 13 tháng 8 tại Huế trước chùa Phước Duyên, quận Hương Trà, Đại đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu. Dân chúng, sinh viên Phật tử biểu tình ở khắp mọi đường phố ở Huế, ở các quận.
Sau đó, ngày 15 tháng 8 năm 1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Hòa (Khánh Hòa).
Ngày 16 tháng 8 năm 1963, Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo đã gửi một điện tín cho tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và cho các tổ chức Phật giáo Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thailand, Campuchia, Singapore v.v.. lên tiếng tố cáo chính quyền và xin cứu nguy. Cũng trong ngày này thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự thiêu ở chùa Từ Đàm, thành phố Huế.
Dù đã cố gắng đối thoại với các lãnh đạo Phật giáo và ra một số văn bản nhằm giải quyết những bức xúc của Phật giáo nhưng vẫn không ổn định nổi tình hình. Cuối cùng chính phủ Ngô Đình Diệm quyết định sử dụng những biện pháp cứng rắn để chấm dứt phong trào đấu tranh của Phật giáo. và tổng thống Diệm quyết định thiết quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21 tháng 8 năm 1963 với lý do :” có tin Việt Cộng sắp tràn ngập Thủ đô.” 
Rạng sáng 21 tháng 8, tức sau khi thiết quân luật khoảng nửa giờ, chính phủ ra lệnh tấn công chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các tăng ni lãnh tụ tranh đấu chống chính phủ. Tại Sài Gòn, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Đa số các lãnh tụ Phật giáo bị bắt, hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết bị xô ngã, Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt, nhưng sau đó ông trốn được vào Tòa đại sứ Hoa Kỳ. Sau đó, hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết được thả nhưng những người dưới quyền ông vẫn bị giam giữ.
Sáng ngày 21 tháng 8, tổng thống Ngô Đình Diệm triệu tập nội các và báo tin là quân luật đã được thiết lập trên toàn lãnh thổ vì Cộng quân đã xâm nhập vào các châu thành thủ đô Sài Gòn. Ông cũng cho các vị bộ trưởng hay về việc đánh chiếm các chùa và bắt giữ “bọn tăng ni làm loạn”.
Sau vụ tấn công chùa, tình hình càng thêm rối loạn. Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ tuyên bố từ chức. Bà Trần Văn Chương nhũ danh là Thân Thị Nam Trân cũng từ chức quan sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.
Ngày 22 tháng 8 năm 1963, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu cạo đầu từ chức và thành lập phong trào Trí Thức Chống Độc Tài.
Tối ngày 23 tháng 8 năm 1963, trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien Conein, nhân viên CIA, đến gặp tại Bộ Tổng tham mưu để thanh minh rằng quân đội không tham gia vào việc đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính phủ. Khi Conein hỏi “Các tướng lãnh Việt Nam có ý định đảo chánh không?”, thì tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ nói chuyện sau”. Từ đó, Conein thường liên lạc và dò hỏi các tướng lãnh Việt Nam.
Ngày 25 tháng 8 năm 1963, ba trăm sinh viên học sinh tổ chức biểu tình tại Công trường Diên Hồng phía trước chợ Bến Thành trong lúc đang có lệnh giới nghiêm. Các trung đội Cảnh Sát Chiến Đấu gần đó được tin liền kéo tới đàn áp. Cảnh sát bắn cả vào đám biểu tình. Nữ sinh Quách Thị Trang trúng đạn tử thương. Khoảng 200 người bị bắt giữ. Ngay chiều hôm đó chính quyền đô thành ra thông cáo rằng các lực lượng an ninh đã được lệnh nổ súng vào bất cứ đám đông nào tụ họp ngoài công lộ mà không xin phép trước.
Ngày 7 tháng 9 năm 1963, học sinh các trường trung học công lập Gia Long, Trưng Vương và Võ Trường Toản tổ chức mít tinh bãi khóa ngay tại sân trường của họ.
Ngày 5 tháng 10 năm 1963, trước chợ Bến Thành, đại đức Thích Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Diệm.
10 sáng ngày 10 tháng 9 năm 1963, thiền sư Thiện Mỹ châm lửa tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn.
Mâu thuẫn với chính phủ Hoa Kỳ
Một số thành viên trong chính phủ Hoa Kỳ cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm tham nhũng, đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu. Một điều quan trọng hơn cả đối với người Mỹ là Ngô Đình Diệm có thái độ dè chừng, giữ khoảng cách với chính người Mỹ, cùng với việc Diệm ngày càng trở nên độc đoán, bảo thủ, khó tiếp cận và khó thuyết phục trong khi mục tiêu chống Cộng đang ngày càng gặp nhiều khó khăn đã khiến cho quan hệ giữa CIA và các cơ sở khác của Mỹ với anh em Ngô Đình Diệm ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Và người Mỹ một lần nữa lại nghĩ đến nước cờ “thay ngựa giữa dòng” đối với Ngô Đình Diệm.
Ngày 9 tháng 5 năm 1961, trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam, phó tổng thống Mỹ Lyondon B. Johnson đã đề nghị việc gửi Quân đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Ngô Đình Diệm đã cương quyết từ chối, ông nói:
Nếu quý vị mang quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.
—Ngô Đình Diệm
Trong một cuộc tiếp kiến đại sứ Frederick Nolting, khi Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ”.
Có nguồn cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Ngô Đình Diệm không chấp thuận.
Tác giả Chính Đạo cho rằng từ tháng 8 năm 1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ chồng Ngô Đình Nhu và những người trong gia đình ông Diệm, bằng một số nhân vật khác,vì tổng thống Ngô Đình Diệm không chịu thay chủ trương chính sách như người Mỹ muốn.[24]
Có tin rằng chính phủ Ngô Đình Diệm đã bí mật liên lạc để tìm cách thỏa hiệp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ thể là tháng 2 năm 1963, Ngô Đình Nhu mượn cớ đi săn cọp, đã bí mật gặp tại Bình Tuy một cán bộ cộng sản cao cấp là Phạm Hùng và có thể cả tướng Trần Độ. Chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm với nguồn tin này.
Tổng thống Kennedy lo ngại tình hình Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964. Do đó Kennedy muốn tìm một giải pháp mới, nhằm thay đổi tình hình tại Việt Nam theo chiều hướng có lợi cuộc tái tranh cử của mình.
Trong cuộc họp báo ngày 22 tháng 5 về Việt Nam, tổng thống Kennedy đã có những lời lẽ chỉ trích chính phủ ông Diệm, và một câu nói của ông như một lời giận dỗi: Mỹ sẽ rút hết quân đội và chấm dứt viện trợ cho Việt Nam bất cứ lúc nào chính phủ Việt Nam yêu cầu. Trả lời báo chí, ông ngụ ý là “Việt Nam muốn chiến thắng cộng sản, cần phải có những thay đổi chính trị sâu rộng, từ căn bản”.
Ngày 23 tháng 5 năm 1963, (sau biến cố Phật giáo ở Huế), người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, đưa ra một kế hoạch về các cách thay đổi chính phủ Diệm.
Ngày 27 tháng 6 năm 1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. (Thay đổi đại sứ trong lúc tình hình căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách).
Ngày 22 tháng 8 năm 1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn.
Từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963). Dư luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia đình trị, càng ngày càng mất lòng dân, càng ngày càng kém hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích cộng sản.
Ngày 24 tháng 8 năm 1963, Henry Cabot Lodge, người vừa sang Sài Gòn làm đại sứ nhận được chỉ thị từ Washington yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm cách chức Cố vấn Ngô Đình Nhu và cảnh báo Tổng thống Diệm rằng, nếu ông ta từ chối, Hoa Kỳ sẽ phải “đối diện với khả năng chính bản thân ông Diệm không thể được bảo toàn”. Trong ngày 24 tháng 8 năm 1963, Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh của một số tướng lãnh. Cũng trong ngày 24 tháng 8 năm 1963, thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lý thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và ký tên mật điện 243 gởi cho Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ( sau khi được tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk đồng ý ). Nội dung đoạn cuối điện văn được dịch như sau:
Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.
Nếu ông (tức đại sứ Lodge) cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối diện với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể được bảo toàn (Diem himself cannot be preserved).
—Điện văn
Ngày 25 tháng 8 trong chương trình phát thanh của Đài tiếng nói Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy họp báo tuyên bố rằng: nếu muốn công cuộc ngăn chặn cộng sản tại Việt Nam hữu hiệu thì cần phải thay đổi chính sách, thay đổi hệ thống nhân sự lành đạo tại Sài Gòn. Cũng khoảng thời gian này, Ngô Đình Nhu họp báo tại Los Angeles tuyên bố rằng Mỹ đang dự định tổ chức một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông tố cáo rằng “hiện thời ở Việt Nam bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng không thể thành công được trừ khi được Mỹ xúi giục và hậu thuẫn”.
Ngày 29 tháng 9 năm 1963, bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài Gòn gặp tổng thống Diệm. McNamara nói với tổng thống Diệm rằng việc đàn áp Phật giáo gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu nhưng Tổng thống Diệm né tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.
Diễn biến
Từ tháng 7 năm 1963 đã có những tin đồn về việc sắp xảy ra đảo chính. Các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh có ý định đảo chính để chấm dứt khủng hoảng, lật đổ chính phủ bị nhiều người xem là độc tài, gia đình trị. Theo báo cáo của CIA, đồng thời có ít nhất mười nhóm âm mưu đảo chính cùng chung mục đích kể trên của các tướng tá trẻ. Chính các nhóm này gây áp lực khiến các tướng lĩnh cấp cao phải quyết định hành động để ổn định tình hình, ngăn ngừa xảy ra những cuộc đảo chính của các nhóm khác có thể đưa miền Nam vào khủng hoảng trầm trọng hơn.
Để đối phó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra lệnh thuyên chuyển các tướng lãnh tư lệnh các Vùng Chiến Thuật. Tướng Tôn Thất Đính từ Vùng II chuyển về Vùng III. Tướng Huỳnh Văn Cao được đưa về Vùng IV. Tướng Nguyễn Khánh được đưa ra II, tướng Đỗ Cao Trí được đưa ra Vùng I. Những tướng bị nghi ngờ thì được triệu về Sài Gòn giữ những chức vụ không có quân trong tay. Tướng Trần Văn Đôn làm cố vấn quân sự cho Phủ Tổng Thống. Hai lực lượng hùng hậu nhất mà chính quyền tin cậy là Lực lượng Đặc biệt do trung tá Lê Quang Tung làm tư lệnh và Lữ đoàn Liên minh Phòng vệ Phủ Tổng thống do trung tá Nguyễn Ngọc Khôi làm tư lệnh, được bố phòng chặt chẽ nhằm sẵn sàng đối phó 
Chuẩn bị
Bùi Diễm (sau năm 1963 là Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ) đã viết trong hồi ký của mình rằng: tướng Lê Văn Kim đã yêu cầu hỗ trợ nhằm thực hiện điều mà chính phủ Hoa Kỳ muốn làm với chính quyền của Ngô Đình Diệm (tức gạt bỏ chính quyền của Ngô Đình Diệm).[30] Diễm đã liên lạc với cả đại sứ và các nhà báo thạo tin của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, như David Halberstam (New York Times), Neil Sheehan (United Press International) và Malcolm Browne (Associated Press).
Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính, được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa do tướng Dương Văn Minh cầm đầu, đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ xin ý kiến. Biên bản cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ và các cố vấn cho thấy Tổng thống Mỹ sau khi họp với 15 cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân viên CIA Lucien Conein.
Lucien Conein đặc vụ của CIA trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu. Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công. Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông báo về ý định đảo chính ông ta nói: “Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.”. Sau đó Conein bí mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động ám sát nào. Tướng Đôn trả lời “Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.”.
Chuẩn bị cho cuộc đảo chính các tướng lĩnh tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với chính phủ Ngô Đình Diệm đi hành quân ở những vùng xa Sài Gòn để các đơn vị này không thể ứng cứu khi đảo chính xảy ra. Ngày 29 tháng 10, để vô hiệu hóa Lực lượng Đặc biệt (lực lượng thiện chiến và trung thành với chế độ), tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và cũng là Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng này di chuyển ra khỏi Sài Gòn, truy quét cộng sản ở vùng Hố Bò, Củ Chi. Sáng ngày 31 tháng 10 năm 1963, tướng Tôn Thất Đính hạ lệnh cấm trại toàn thể quân đoàn Vùng III Chiến Thuật và cử đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị tới bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản đường về thủ đô của bất cứ đơn vị nào của quân đoàn Vùng IV Chiến Thuật. Chiều 31 tháng 10 năm 1963, đại tá Nguyễn Văn Thiệu Sư trưởng Sư đoàn 5 đã dẫn 2 trung đoàn dưới quyền cùng 1 tiểu đoàn pháo binh và 1 chi đoàn thiết giáp mượn cớ đi hành quân ở Phước Tuy nhưng lại dừng chân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa và QL15 đi Vũng Tàu.
Như vậy các tướng lãnh đã chặn ba nẻo chính có thể tiến quân về thủ đô: con đường từ Lục tỉnh về thì do đại tá Nguyễn Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm. Con đường miền Tây có thiếu tướng Mai Hữu Xuân với quân lực Trung tâm Huấn luyện Quang Trung án ngữ. Con đường từ miền Bắc có đại tá Vĩnh Lộc với chiến đoàn Vạn Kiếp án ngữ.
Khởi động
Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1963, được lệnh của các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính loại bỏ Hồ Tấn Quyền khỏi vai trò chỉ huy binh chủng hải quân, Thiếu tá Trương Ngọc Lực, Chỉ huy trưởng Vùng III Sông Ngòi (dư luận đánh giá là một người hiếu sát) và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung Phong, kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang Vận đã lừa Hồ Tấn Quyền ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. Cũng trong sáng ngày 1 tháng 11 trung tướng Trần Văn Đôn triệu tập các cấp chỉ huy của một các đơn vị quân đội đồn trú tại Sài Gòn và các vùng phụ cận mà ông nghi ngờ trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm về cầm chân ở Bộ Tổng tham mưu. (Khi trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống đến họp ở Bộ Tổng tham mưu thì ông bị còng tay với nhiều sĩ quan cao cấp khác như trung tá Nguyễn Văn Thiện, Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp và Đại Tá Trần Văn Trung, Tùy viên Quân sự ở Pháp mới về nuớc…)
Lúc 1h30 trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963, điệp viên CIA Lucien Emile Conein vào bộ Tổng Tham mưu, mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm. Theo Việt Nam nhân chứng của Trần Văn Đôn thì số tiền này được chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang. Ngay sau đó, tướng Dương Văn Minh đề nghị tất cả tướng lãnh tham dự vào cuộc đảo chính. Hầu hết các tướng lĩnh đều hưởng ứng trừ đại tá Cao Văn Viên, chỉ huy trưởng Lữ đoàn dù và Đại tá Lê Quang Tung, tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân là phản đối. Các ông bị bắt ngay sau đó và bị đại úy Nguyễn Văn Nhung sĩ quan tùy viên của tướng Dương Văn Minh đưa sang tạm giam trong phòng “cô lập các sĩ quan chống đối“. Đêm đó, Nguyễn Văn Nhung đem đại tá Tung và em trai là thiếu tá Lê Quang Triệu, tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt ra nghĩa trang Bắc Việt Tương tế ở sau Bộ Tổng tham mưu trại giết chết cả hai anh em.
Tại Vùng IV Chiến thuật, tướng Huỳnh Văn Cao lúc đầu nhất định không theo đảo chánh. Ông đã cố gắng để liên lạc với đại tá Bùi Dzinh Tư lệnh sư đoàn 9 đóng ở Sa Đéc và đại tá Bùi Đình Đạm Tư lệnh Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho đem quân về, nhưng sư đoàn 7 thì bị đại tá Nguyễn Hữu Có đem công điện của trung tướng Đôn về đoạt quyền tư lệnh của đại tá Đạm. Kế tiếp ông Có đã đem quân Sư đoàn 7 ra chặn ở ngã ba Trung Lương và cho rút hết các chiếc phà Mỹ Thuận để ngăn chặn Sư đoàn 9 vượt sông Tiền Giang.
Lúc 12 giờ 10′, tại dinh Gia Long, khi Tổng thống Ngô Đình Diệm được tin báo về cuộc đảo chính ông và cố vấn Ngô Đình Nhu di chuyển xuống hầm bí mật đào dưới dinh Gia Long. Hầm này có phòng ngủ, phòng tắm và phòng khách cho tổng thống và cố vấn, và có địa đạo dẫn ra ngoài dinh.Tại đây ông ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính yêu cầu đến ứng cứu.
Cao điểm
Vào 1 giờ 30 chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, Mai Hữu Xuân chế ngự được đơn vị của Lực Lượng Đặc Biệt đóng tại Tân Sơn Nhất, đồng thời tướng Xuân cũng đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả đường tiến vào Sài Gòn. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền Tư lệnh Không quân (đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) cho phi cơ phóng pháo bay lượn trên không phận Sài Gòn để uy hiếp các lực lượng chống đảo chính. Thiếu tá Nguyễn Bá Liên (cháu của Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội), Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ra lệnh cho 2 tiểu đoàn dưới quyền vờ đi hành quân ở núi Thị Vải, Bà Rịa rồi bất ngờ chuyển hướng về Sài Gòn chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Truyền tin. Quân đảo chính do đại tá Phạm Ngọc Thảo sau hai lần tấn công đã chiếm được Đài Phát thanh Sài Gòn. Sau khi chiếm Đài Phát thanh, quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có trong danh sách này ngoại trừ: tư lệnh các Quân đoàn II, Quân đoàn I và Quân đoàn IV. Quân đảo chính cũng phát lời hiệu triệu đại ý gồm có lời tuyên bố lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ, lời kêu gọi ông Diệm đầu hàng, lời hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết làm hậu thuẫn cho cuộc đảo chính. Được sự đồng ý của tổng thống Ngô Đình Diệm, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống cử 1 đại đội có thiết giáp yểm trợ, để tái chiếm Đài Phát thanh, nhưng nỗ lực này không thành công. Trong thành Cộng Hòa, Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ dùng đại bác và đại liên chống trả  cho đến rạng sáng ngày 2 tháng 11 thì lực lượng này buông súng theo lệnh của tổng thống Diệm, để đại tá Nguyễn Văn Thiệu đem 1 trung đội vào tiếp thu.
Ngô Đình Diệm liên lạc với phe đảo chính và Đại sứ Mỹ
Lúc đầu, ông Diệm vẫn hy vọng rằng cuối cùng cuộc phản loạn này cũng kết thúc như cuộc đảo chánh bất thành ngày 11-11-1960. Ông đã chủ động gọi tướng Trần Văn Đôn. Tướng Đôn tuyên bố với Ngô Đình Diệm phe đảo chính hành động để “đáp lại nguyện vọng của nhân dân” vì các tướng lĩnh đã đề nghị Ngô Đình Diệm “cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân” nhiều lần nhưng không được đáp ứng. Ngô Đình Diệm đề nghị đối thoại với các tướng lĩnh để “tìm ra con đường củng cố lại chế độ”. Tướng Đôn trả lời sẽ bàn bạc với các tướng lĩnh khác về đề nghị của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Cuộc gọi điện giữa ông Diệm và tướng Đôn được Lý Quí Chung kể lại trong Hồi ký không tên như sau:
Ông Diệm:
Tướng lãnh các anh đang làm gì vậy?
Tướng Đôn:
Thưa cụ, chúng tôi đã đề nghị với cụ nhiều lần rằng cụ cần cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân. Bây giờ đã đến lúc quân đội phải đáp lại nguyện vọng của nhân dân. Mong cụ hiểu chúng tôi.
Ông Diệm:
Tại sao chúng ta không ngồi lại với nhau nói chuyện? Chúng ta sẽ bàn về cái mạnh và cái yếu của chế độ, và tìm ra con đường củng cố lại chế độ.
Tướng Đôn:
Có lẽ đã quá trễ để bàn luận việc đó, thưa cụ.
Ông Diệm:
Chưa bao giờ là trễ, do đó tôi mời tất cả các anh đến dinh cùng bàn vấn đề, vạch ra một giải pháp được cả đôi bên chấp nhận.
Tướng Đôn:
Thưa cụ, tôi phải hỏi lại ý kiến những người khác xem sao.
Vào lúc 4 giờ 30 chiều 1 tháng 11 năm 1963 ông Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Mỹ Cabot Lodge để thăm dò thái độ của người Mỹ về việc các tướng lĩnh dưới quyền tổ chức đảo chính. Ông đề nghị sẽ thực hiện các yêu cầu của người Mỹ. Cabot Lodge khuyên Ngô Đình Diệm từ chức và lưu vong như mong muốn của phe đảo chính để bảo toàn tính mạng. Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận thức rằng người Mỹ đã bật đèn xanh với âm mưu đảo chính của các tướng lĩnh.
“Tại Sài Gòn này có một số tướng lĩnh quân đội không muốn phục tùng sự điều hành, chỉ huy của chính phủ” – Ngô Đình Diệm thử thăm dò.
“Tôi rất muốn biết thái độ của người Mỹ các ngài nhận định về việc này như thế nào?”.
“Xin lỗi, từ trước tới nay, tôi chưa từng nghe nói về tin tức có liên quan tới đảo chính!” – Lodge giả vờ ngây ngô để tìm cách thoái thác. “Vả lại, hiện đang là 4 giờ 30 phút sáng tại miền Đông nước Mỹ, Washington không thể ngay lập tức trả lời ngài được”.
“Nhưng về phía ngài chí ít cũng có cách nhìn khái quát chứ ạ! Tôi hiện tại chỉ mong được làm theo mọi yêu cầu của người Mỹ các ngài và sẽ cố gắng hết mức. Tôi tin rằng, nhiệm vụ mà nước Mỹ giao cho chúng tôi là tối cao…”.
“Đúng vậy, ngài tổng thống đã hoàn thành rất tốt sứ mệnh của mình… Nhưng điều tôi lo lắng nhất hiện nay là an toàn tính mạng của ngài. Nghe nói, nếu các ngài đồng ý chủ động từ chức, thì những kẻ chủ mưu chuyện này sẽ sẵn sàng cung cấp mọi phương tiện cho anh em ngài rời Việt Nam, không rõ ngài đã nhận được tin này chưa?”.
Đến 6 giờ 30 cùng ngày, ông Diệm gọi lại tướng Đôn, nhưng được tướng Đôn thông báo sự khước từ của phe đảo chánh. Họ đòi hỏi hai anh em ông Diệm phải rời khỏi nước. Ông Diệm đồng ý nhưng đặt một điều kiện: phe đảo chính phải chấp nhận cho ông các nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống nhưng bị từ chối.
Ông Diệm:
Tôi là một tổng thống dân cử của quốc gia. Tôi sẵn sàng từ chức công khai, và tôi cũng sẵn sàng rời khỏi nước. Nhưng tôi yêu cầu các ông dành cho tôi các nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống.
Tướng Đôn: (Suy nghĩ một lúc)
Thật sự, tôi phải nói rằng chúng tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của cụ về điểm này.
Ông Diệm:
Thôi được. Cảm ơn.
 
Qua đài phát thanh, khi biết các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính đều tham gia phe đảo chính, 8h tối ngày 1 tháng 11 tổng thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cùng 2 sỹ quan tùy viên (đại úy Đỗ Thọ và đại úy Bằng) trốn về nhà Mã Tuyên, Tổng bang trưởng của người Hoa và cũng là thủ lĩnh là Thanh niên Cộng hòa ở Chợ Lớn. Sáng sớm ngày 2 tháng 11, từ nhà Mã Tuyên hai ông sang dự lễ và cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam. Tại đây tổng thống Diệm ra lệnh đại úy tùy viên Đỗ Thọ lấy điện thoại nhà xứ gọi về Tổng tham mưu thông báo là hiện Tổng thống đang ở nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn.
Vào khoảng 7h sáng ngày 2 tháng 11, một phái đoàn gồm có 3 chiếc xe Jeep, hai chiếc thiết giáp M113, 2 chiếc GMC chở đầy lính vũ trang và các nhân vật: tướng Mai Hữu Xuân, đại tá Dương Ngọc Lắm, đại tá Nguyễn Văn Quan, đại úy Nguyễn Văn Nhung và đại úy Dương Hiếu Nghĩa, đại úy Phan Hòa Hiệp  được đưa tới nhà thờ cha Tam để đón hai ông. Đại tá Lắm tuyên bố thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ép hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lên xe thiết giáp M113.
Đại tá Lắm đến chào Ngô Đình Diệm:
Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.
Ngô Đình Diệm bèn hỏi:
Ông Đôn và ông Minh đâu hè?
Đại tá Lắm đáp:
Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
Ngô Đình Diệm nói:
Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.
Đại tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.
Ngô Đình Nhu khẽ nhíu mày lên tiếng:
Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.
Đại tá Lắm khẽ nhún vai:
Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung tướng Chủ tịch.
Đại úy Nhung liền oang oang:
Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.
Mặt Cố vấn Ngô Đình Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng thống…
Đại úy Nhung:
Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.
Ngay lập tức, viên Đại uý này bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và kéo cửa lên…
Trên đường về bộ Tổng tham mưu, tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát. Thi hài của hai ông được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn để khám nghiệm. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, Giám đốc bệnh xá và cũng là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì hai ông Diệm, Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác tổng thống Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác Ngô Đình Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.
Khoảng 10 giờ ngày 2 tháng 11, đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: “Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử!” Dư luận không tin là anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Cố Tổng Thống Diệm là một người ngoan đạo, mà đạo Thiên Chúa cấm tự sát 
Thi hài anh em tổng thống Diệm được âm thầm an táng trong vòng thành Bộ Tổng tham mưu (về sau thì di dời ra Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi) với sự hiện diện của người cháu gái và làm thủ tục khai tử tại quận Tân Bình. Về nghề nghiệp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được ghi là Tuần Vũ và ông Nhu là quản thủ thư viện.
Phản ứng của những người có liên quan
4 giờ chiều ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Tổng Thống Diệm đã bị giết, đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng tiếng Pháp: ”C’est formidable! C’est formidable!” (Thật là tuyệt diệu. Tuyệt diệu).
Tuy nhiên không phải ai cũng vui như thế. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (thời điểm này là trung tá) cũng như nhiều người khác cảm thấy bất nhẫn khi nghe tin hai ông Diệm Nhu bị thảm sát, ông Kỳ viết: “I was shocked and angry, however, the next day when I learned that Diem and Nhu had been shot to death … But killing him was not necessary, and if I had known that murder had been on the conspirators’ agenda…It was too late to go back, but with these killings I lost what little respect I once had for generals. It showed how fearful they were of maintaining power” (“Tôi đã rất sốc và buồn bực, nhưng ngày hôm sau tôi biết rằng Diệm và Nhu đã bị bắn mà chết… Nhưng giết ông ấy là không cần thiết, và nếu tôi biết rằng vụ sát nhân đã được chuẩn bị trong âm mưu nghị sự…Thật là quá trễ để quay đầu, nhưng với chuyện sát nhân này tôi đã mất đi sự tôn trọng nhỏ mà tôi đã từng có với các tướng. Nó cho thấy sự đáng sợ thế nào trong cách mà họ duy trì quyền lực”) 
Theo đại tướng Maxwell Taylor – Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ – John F. Kennedy luôn kiên trì chủ trương trục xuất Ngô Đình Diệm ra khỏi Việt Nam là đủ rồi và đã dặn dò đảo chính “Chớ nên đổ máu!” nhưng sự thực xảy ra hoàn toàn trái ngược với ý nguyện của ông.  Đại tướng Maxwell Taylor cho biết về thái độ của Tổng thống Hoa Kỳ sau khi nghe tin anh em Ngô Đình Diệm đã bị phe đảo chính giết chết:
Đang ngồi, Tổng thống Kennedy cứ nhấp nhổm không yên. Sắc mặt ông trắng bệch, kinh ngạc và buồn rầu. Tôi chưa từng thấy ông gặp tình cảnh như thế này bao giờ!
—Maxwell Taylor
Nghe tin tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết, Tổng thống Đài Loan Tưởng Giới Thạch thương tiếc nói rằng:
Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề về vụ ám sát xấu xa nầy, Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp… Tôi khâm phục ông Diệm, Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu.
—Tưởng Giới Thạch 
Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ giật mình, tổng thống Hồi Quốc (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon:
Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ.
—Tổng thống Ayub Khan
Hậu quả
 
Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính tình hình chính trường Sài Gòn không được như chính quyền Washington mong muốn. Trong vòng 4 năm kể từ biến cố 1-11-1963 cho đến khi thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa ngày 1-11-1967, Miền Nam đã trải qua 4 chính phủ: Chính phủ Nguyễn Khánh (quân nhân), Chính Phủ Trần Văn Hương (độc lập), chính phủ Phan Huy Quát (Đại Việt), chính phủ Nguyễn Cao Kỳ (quân nhân).
Người kế nhiệm John F. Kennedy, tổng thống Lyndon B. Johnson (1963 – 1969) than thở:
Lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta…. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị từ lúc đó …
—Lyndon B. Johnson
Trên nhật báo Công Luận số đặc biệt ngày 1-11-1970 cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn linh hồn của cuộc đảo chính năm 1963 đã lên tiếng qua bài “Những cơ hội đã mất”.
“…Những người của ngày 1-11-1963 đã thành công trong đảo chính, nhưng đã thất bại trong việc cầm quyền. Bị đặt trước những nhiệm vụ mới và lớn lao, lại không có kinh nghiệm cầm quyền, họ bị tình thế xô đẩy và tràn ngập trong các vấn đề phải giải quyết. Ngày 1-11-1963 rút lại chỉ còn là một ngày đảo chính mở ra một giai đoạn lịch sử đầy hỗn loạn với bao nhiêu là bấp bênh: hết chỉnh lý lại đến đảo chánh, quyền hành chuyển từ tay nọ qua tay kia và xã hội càng ngày càng thiếu ổn định. Trong khi đó thì Cộng Sản không ngừng phát triển chiến tranh …”
Linh mục Cao Văn Luận tác giả hồi ký Bên Dòng Lịch Sử Việt Nam, 1940-1975 nhận xét:
“Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính trị, những thất bại quân sự sau ngày 1-11-1963 đã trả lời cho câu hỏi đó”
Lê Duẩn nhận xét:
“Để hòng cải thiện thể chế chính trị ngày càng tồi tệ, Mỹ đã vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đã tính nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đình Diệm, thế chính trị của bọn bù nhìn chẳng những không tốt lên mà còn xấu hơn nữa.”
Nghi vấn về những người tham gia hạ sát hai anh em Ngô Đình Diệm
 
 
 
Điệp viên CIA Lucien Emile Conein, người có vai trò rất lớn trong cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm đồng thời cũng là đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính. Ông cũng chính là một trong những điệp viên đã hỗ trợ tổng thống Diệm giai đoạn 1954-1956.
Về người giết hai anh em Ngô Đình Diệm
Theo John S. Bowman thì hai người trực tiếp giết hại ông Diệm và Nhu là thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung, theo lệnh của trung tướng Dương Văn Minh, lúc đó đứng đầu phe đảo chính.
Nguyễn Văn Nhung
Theo hồi ký “Việt Nam một trời tâm sự” của tướng Nguyễn Chánh Thi thì Thiếu tá Nhung thú nhận: “Tôi (Thiếu tá Nhung) rút khẩu súng colt 12, bắn mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực. “
Theo cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976 ở Mỹ, ở trên chiếc thiết vận xa M113, hai anh em tổng thống Diệm bị trói tay quặt ra sau lưng. Tổng thống Diệm do bị sốc nặng nên đã ngồi im. Bất ngờ, đại uý Nguyễn Văn Nhung rút dao găm ra đâm ông cố vấn Nhu 15-20 phát. Rồi rút súng Colt ra bắn vào gáy tổng thông Diệm. Thấy ông Nhu vẫn chưa chết hẳn, Đại uý Nhung đã bắn thêm vào đầu ông ta…
Trong cuốn Nam Việt Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, các tác giả đã buộc tội thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát tổng thống.
Theo cuốn “A Death in November” (Cái chết vào tháng mười một) của tác giả Ellen J. Hammer viết trong khi chiếc thiết vận xa M113 dừng lại ở trước đường xe lửa trên đường Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay), thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa đứng trên cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai anh em tổng thống Diệm. Rồi đại úy Nhung rút súng Colt ra bắn thêm mấy phát vào đầu tổng thống Diệm và cố vấn Nhu, sau đó tiếp tục rút dao găm đâm nhiều nhát vào ngực hai ông. Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận việc giết hai ông và nói rằng mình không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Và thiếu tá Nghĩa cũng lý luận rằng nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu người ta cũng giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi. Nhưng nhiều người vẫn tin lời tường thuật của bà Ellen J. Hammer vì thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa là một Đảng viên Đảng Đại Việt, (Đảng Đại Việt vốn có thâm thù với chính quyền Ngô Đình Diệm) và sau này khi ngồi ghế Phụ thẩm Quân nhân của Tòa án Cách mạng, đã tham gia xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn.
Trong chương Cuộc Đảo Chánh 1-11-1963 của cuốn Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì nhiều nhân chứng đã thấy Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa lau bàn tay vấy máu trước khi vào báo cáo với tướng Dương Văn Minh.
Đại úy Đỗ Thọ, sỹ quan tùy viên của tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đặt vấn đề: “Đáng ra trong hồ sơ khẩu cung sau ngày chỉnh lý 30/1/1964, thiếu tá Nhung phải khai thêm một sĩ quan đồng lõa tên Nghĩa (Dương Hiếu Nghĩa) nữa, nhưng không hiểu tại sao thiếu tá Nhung lại không tiết lộ.” 
Về người ra lệnh giết hai anh em Ngô Đình Diệm
Theo tài liệu “JFK and the Diem Coup” của tiến sĩ John Prados xuất bản vào tháng 11 năm 2003, dựa trên các đoạn băng ghi âm (kể cả các buổi họp bí mật tại Tòa Bạch Ốc), các công điện trong và sau thời gian xảy ra cuộc đảo chánh thì chính phủ Hoa Kỳ có ý muốn loại bỏ quyền lực của ông Diệm, chứ không hề có ý định sát hại hai ông Diệm, Nhu.
8 giờ 30 sáng ngày 2 tháng 11 tại cuộc họp thu hẹp giữa một số tướng lãnh tại Bộ Tổng tham mưu, trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ đã xui tướng Dương Văn Minh: ” Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc”.
Điệp viên CIA Lucien Emile Conein, người được cho rằng đã giật dây cuộc đảo chính này, khi hay tin ông Diệm và ông Nhu ra khỏi dinh Gia Long, Luien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt cho kỳ được vì rất quan trọng?” Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp: “On ne fait pas d?omelette sans casser les oeuf? (Người ta không thể làm trứng rán mà không đập bể những quả trứng)” 
Theo hồi ký Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Hoành Linh Đỗ Mậu thì sáng ngày 2 tháng 11, tại Bộ Tổng tham mưu đã có một cuộc bàn luận giữa các tướng lãnh tham gia đảo chính, về cách đối xử với ông Diệm, nên giết hay nên cho xuất ngoại. Và Đỗ Mậu là người duy nhất không tán đồng giết hai anh em nhà Ngô.
Theo hồi ký “Việt Nam một trời tâm sự” của tướng Nguyễn Chánh Thi thì khi chiếc thiết vận xa rời nhà thờ Cha Tam chạy chừng 500 m thì gặp tướng Thu (thật ra là tướng Mai Hữu Xuân) đưa lên một ngón tay trỏ, nhóm Nguyễn Văn Nhung trên M113 đoán rằng ông ta ra lệnh giết một trong hai anh em Tổng thống Diệm, nhưng chưa biết phải giết người nào thì lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái, với hai ngón khép lại với nhau, chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên. Họ nghĩ rằng ông ra lệnh giết cả hai anh Ngô Đình Diệm. Và khi đoàn xe chở hai ông Diệm, Nhu đã chết về đến Bộ Tổng tham mưu thì thiếu tướng Mai Hữu Xuân đưa tay chào tướng Dương Văn Minh và nói: “Mission accomplie!” (Sứ mệnh đã hoàn thành).
Và nhiều người nhận định là đại úy Nhung (sỹ quan cận vệ của tướng Dương Văn Minh) không thể nào dám hạ sát hai ông Nhu, Diệm nếu không có lệnh của tướng Minh
Thưởng và phạt sau cuộc đảo chính 1963
 
Những nhân vật được thưởng
Hầu hết các tướng lĩnh tham gia đảo chính đều được thăng cấp.
Thiếu tướng Tôn Thất Đính được thăng ngay Trung tướng.
Thiếu tướng Nguyễn Khánh được thăng chức Trung tướng.
Thiếu tướng Đỗ Cao Trí được thăng chức trung tướng, mặc dầu thiếu tướng Trí mới được lên thiếu tướng hơn một tháng.
Tuy vậy, các tướng lĩnh cầm đầu lại không tự phong cấp cho mình như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân…, đều vẫn giữ cấp bậc cũ.
Ngoài ra, một số sĩ quan khác cũng được thăng cấp:
Các Đại tá Đỗ Mậu, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu được thăng Thiếu tướng.
Trung tá Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Ngọc Thảo được thăng Đại tá.
Đại úy Nguyễn Văn Nhung người trực tiếp giết hai ông Diệm, Nhu được thăng thiếu tá.
Những nhân vật bị phạt
Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao bị cách chức, cho đến sau chỉnh lý mới được phục chức.
Đại tá Bùi Dzinh bị cách chức Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh, kỷ luật “nghỉ dài hạn không lương”, ngày 19/2/1965 ông tham gia cuộc chính biến lật đổ Quốc Trưởng Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu, bị bắt giam ở khám Chí Hoà và giải ngũ vài năm sau đó.
Đại tá Bùi Đình Đạm bị cách chức, sau chỉnh lý mới được phục chức.
Trung tá Đinh Văn Phát, là tỉnh trưởng Kiến Phong, người đã trả lời phe đảo chính: “Tôi là con nhà Nho, việc gì cũng phải có trước có sau. Mới đây được tổng thống tin cậy cho làm tỉnh trưởng, mà nay ủng hộ đảo chánh, sao tôi làm được?”, bị cách chức. Sau đó ông trở thành chủ hãng phim, chủ tờ nhật báo Độc Lập rất giàu có.
Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống, ngưới chỉ huy vệ binh bảo vệ Dinh Gia Long chống quân đảo chính (thời điểm đó Trung tá tư lệnh Nguyễn Hữu Khôi đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) bị Nha An ninh Quân đội bắt giam hơn một tháng. Về sau phải nhờ đại tá Nguyễn Văn Quan, phụ tá Dương Văn Minh, người cầm đầu đảo chính can thiệp, mới được thả.
Vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa của Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu, lãnh đạo 3 tháng sau đó là Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964.
***
Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung là một sỹ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là cận vệ của tướng Dương Văn Minh, ông nổi tiếng vì có vai trò trong cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963. Trong cuộc đảo chính này, Nguyễn Văn Nhung được cho rằng là người đã giết chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, cũng như đại tá Lê Quang Tung, chỉ huy trưởng Lực lượng đặc biệt (lực lượng trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã lãnh đạo một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Lúc 1h30 chiều, các sỹ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức một cuộc họp tại một sở chỉ huy ở gần Tân Sơn Nhất, giả vờ như một cuộc họp thường lệ. Tướng Trần Văn Đôn đã thông báo một hội đồng cách mạng quân sự đang nắm quyền. Đại tá Tung, người có số phận đã được những người âm mưu đảo chính định đoạt trước, là người duy nhất không đứng dậy vỗ tay hoan hô thông báo này. Đại tá Tung bị bắt giữ và bị Nguyễn Văn Nhung (khi đó là Đại úy) đưa sang một căn phòng khác ở trong sở chỉ huy này, Đại tá Tung đã hét to “Hãy nhớ ai đã gắn sao cho tụi bay”. Đêm đó, Nguyễn Văn Nhung chở Đại tá Tung và em Đại tá Tung là thiếu tá Lê Quang Triệu đến một địa điểm bên ngoài doanh trại và bắn chết cả hai anh em.
Sáng hôm sau, các lực lượng trung thành của họ Ngô đã sụp đổ, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chạy thoát khỏi Dinh Độc Lập bằng một đường hầm bí mật, đến trốn ở nhà Mã Tuyên, một Hoa kiều tại Chợ Lớn. Sáng hôm sau Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Đỗ Thọ (Đại úy, tùy viên của Ngô Đình Nhu) dự thánh lễ tại nhà thờ Cha Tam (St. Francis được xây thời Pháp) ở Chợ Lớn. Tại đây, qua điện thoại, anh em họ Ngô đồng ý đầu hàng và đã được Trần Văn Đôn hứa cho đi khỏi đất nước một cách an toàn. Tuy vậy tướng Mai Hữu Xuân Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung cùng một số sỹ quan và binh lính đã đến nhà thờ trên đoàn xe do tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy, gồm 3 chiếc thiết vận xa M-113, 4 chiếc xe jeep, và nhiều binh lính. Tại đây Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã bị quân đảo chánh bắt đưa lên thiết vận xa. Trước khi đoàn quân này lên đường, Dương Văn Minh đã ra mật hiệu cho Nhung bằng 2 ngón tay, tỏ ý ra lệnh bắn chết cả 2 anh em Ngô Đình Diệm.
Sau cuộc bắt giữ, Nguyễn Văn Nhung và thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi chung với anh em Ngô Đình Diệm trong chiếc thiết vận xa chạy về Sài Gòn. Đoàn xe dừng lại tại một điểm giao cắt với đường sắt và theo ý kiến chung thì anh em họ Ngô đã bị giết chết trước đó. Một cuộc điều tra của Trần Văn Đôn đã xác định rằng Dương Hiếu Nghĩa đã bắn anh em họ Ngô bằng một phát đạn bắn thẳng (point-blank range) bằng một khẩu súng bán tự động (Semi-automatic firearm) và rằng Nguyễn Văn Nhung đã bắn hàng loạt đạn khắp thân thể hai anh em Ngô Đình Diệm và đâm nhiều nhát dao vào thân thể hai anh em họ Ngô.
Trần Văn Đôn và và nhiều sỹ quan khác kinh ngạc khi thấy xác hai anh em Ngô Đình Diệm tại sở chỉ huy. Trần Văn Đôn gặp Dương Văn Minh trong văn phòng của tướng Minh và trong lúc họ đang cãi nhau, Mai Hữu Xuân đi vào phòng. Không hay biết Trần Văn Đôn đang ở đó, Mai Hữu Xuân đứng nghiêm chào và báo cáo với Dương Văn Minh bằng tiếng Pháp”Mission accomplie” (nhiệm vụ đã hoàn thành).
Cái chết
 
Sau cuộc cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Nhung bị bắt ngay. Ngày 17 tháng 2 năm 1965, sĩ quan Báo chí Bộ quốc phòng của tướng Nguyễn Khánh chính thức tuyên bố: “Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sỹ quan tổng quát và tùy viên của Trung tướng Dương Văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30 tháng 1 và giam tại Lữ đoàn nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám đã tự vẫn bằng dây giày”.
Tuy nhiên có dư luận cho rằng tướng Nguyễn Chánh Thi đã tham gia vào việc đánh đập tra tấn Nguyễn Văn Nhung cho đến chết. Bà Huỳnh Thị Nhi vợ Nguyễn Văn Nhung cho biết khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô. Có lẽ Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người. Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn, từ số 140 ngày 1/10/70 đến số 160 thì Thiếu tá Nhung đã “bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Diệm. Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh”.
Nhận xét về con người
 
Tướng Trần Văn Đôn có ghi lại trong cuốn sách “Les Guerres du Viet Nam”
“Một trong những người đã hạ sát ông Diệm, ông Nhu là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, được thăng cấp Thiếu Tá sau đó. Nhung đã được chú ý về các thành tích đặc biệt của anh ta. Mỗi ngày Nhung chặt vài ba cái đầu Việt Minh xách về. Do đó, Dương Văn Minh đã lấy Nhung về làm cận vệ, bởi vì ông ta lo sợ bị ám sát, cần một tay dữ dằn để hộ vệ.”
“Trong chiến dịch Dương Văn Minh tấn công Hòa Hảo, Tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh tự Ba Cụt bị bắt và bị xử tử hình. Sau khi bị chém đầu, thi hài ông được chôn tại chỗ (tại nghĩa trang ở đường Hòa Bình). Nhưng sau đó, Dương Văn Minh hạ lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đến đào mã, móc xác lên và băm thành nhiều khúc, làm như thế để phòng ngừa người của Ba Cụt đến lấy xác đem về chôn cất trong chiến khu của họ…”
“Nhung đúng là loại người thích hợp để thi hành các loại công tác ghê tởm đó. Có người nói rằng mỗi khi Nhung giết người, đôi mắt hắn đỏ như máu. Có người còn nói rằng hắn thích ăn gan nạn nhân vừa bị hắn giết chết…” (tr. 171)
Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” , Tướng Trần Văn Đôn đã viết thêm:
“Xưa kia Đại Úy Nhung ở trong đơn vị Commando Pháp là đơn vị chuyên đi khủng bố giết người. Lúc Ba Cụt, tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh bị án tử hình xử chém ở Cần Thơ, Đại Úy Nhung lấy xác Ba Cụt chặt từng khúc, thả cùng mọi nơi để không toàn thây cho khỏi ai tìm xác xây mộ thờ cúng. Ông Minh nói lại cho tôi biết như vậy.” (tr. 238).
Trong cuốn hồi ký “Đôi Dòng Ghi Nhớ” , Đại Tá Phạm Bá Hoa có viết:
“Đại úy Nhung, ít ra hai lần (trước thời gian có biến cố chính trị này) khoe với tôi rằng, mỗi lần anh ấy giết một người thì anh khắc lên báng súng một vạch, anh vạch khắc theo chiều thẳng đứng ở báng súng bên trái. Căn cứ vào lời nói và dấu tích trên báng súng của Đại Úy Nhung, tôi cho rằng Đại Úy Nhung là một sĩ quan đã từng giết người nếu không nói là thông thạo thì cũng quen tay.” (tr. 141).
***
trần minh hiền orlando ngày 29 tháng 10 năm 2013


https://twitter.com/#!/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
https://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a

 

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s