NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ VĨ CẦM VIOLIN

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ VĨ CẦM VIOLIN

Crystallize – Lindsey Stirling (Dubstep Violin Original Song) https://www.youtube.com/watch?v=aHjpOzsQ9YI&list=PLEF2B30310C20B6CD

Bài Nhạc : Mừng Con Thêm Tuổi
Nhạc: Vũ Thiên Đại Dương .
Lời Thơ: Trần Minh Hiền
Hòa Âm: Minh Châu
Thực Hiện PPS và YouTube : Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=NG8SmJ6g4nk&feature=youtu.be
Con Đi Học Nhạc : LMST2013, Thơ: Trần Minh Hiền, Thực Hiện PPS và Youtube: Trần Minh Hiền 
www.lmstflorida.com/?1566
http://www.youtube.com/watch?v=1Q9ztvSHSb0&feature=youtu.be
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a
Dâng Mẹ Hiền
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Ca Sĩ : Duyên Quỳnh 
http://www.youtube.com/watch?v=hBlZpTnyI_M
Mẹ Diệu Hiền Bao La
Nhạc : Vũ Thiên Đại Dương . Lời Thơ: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=1UHhQ9Frdus&feature=youtu.be
Tình Yêu Chôn Dấu Cuối Ngàn Tìm Quên . Nhạc : Nguyễn Hữu Tân . Lời Thơ: Trần Minh Hiền . Thực Hiện PPS và YouTube: Trần Minh Hiền
http://www.youtube.com/watch?v=OHoaKQujGjE 

Casseurs Flowters – La mort du disque https://www.youtube.com/watch?v=LHTlupqMqcY
Lady Gaga – Do What U Want (Live on SNL) ft. R. Kelly https://www.youtube.com/watch?v=A4123vzCDS4
[MV] Davichi(다비치) _ The Letter(편지) (Drama ver.) http://www.billboard.com/charts/k-pop-hot-100
Ballet for All – Fundamentals of Classical Choreography https://www.youtube.com/watch?v=oAabnLZzVxk
6 Hour of The Best Beethoven – Classical Music Piano Studying Conc https://www.youtube.com/watch?v=8ptfyhBjXj8
Talking Dogs Compilation | Compilation | AFV https://www.youtube.com/watch?v=Eg-kNbm2WFQ&list=PL1gdKVRlOxFdbTu9pcjEtvA7-0GHbSq27
File:Violin VL100.png
File:Addys Mercedes Kult 02.JPG
File:San Zaccaria.jpg

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ VĨ CẦM VIOLIN
trần minh hiền orlando ngày 25 tháng 11 năm 2013
Trong tất cả các loại nhạc cụ thì vĩ cầm violin là 1 nhạc cụ độc đáo có 1 không hay vì tiếng đàn réo rắt, véo von đưa hồn người vào nơi chốn an bình thiên thai tuyệt diệu … 
Đàn dây dã xuất hiện từ rất lâu, mặc dù đời sau nhặc cụ đàn gẩy. Cho tới nay chưa một ai biết chính xác nguồn gốc và thời gian xuất hiện của đàn dây. Dựa trên các tài liệu lịch sử thì các nhà nghiên cứu cho rằng xuất xứ của đàn dây là Ấn Độ và nó ra đời vào khoảng những thế kỷ đầu sau Công nguyên. Ngay cả trong thời Hy Lạp cổ đại cũng chưa biết tới đàn dây, mặc dù nước này đã có một nền âm nhạc khá phát triển.
Từ Ấn Độ, đàn dây được phát triển sang các nước Ba Tư, Ả Rập và Bắc Phi, rồi từ đó được  thâm nhập vào Châu Âu vào thế kỷ VIII. Đàn dây được phân ra nhiều loại, từ đơn giản tới phức tạp hơn. Dần dần, trải qua hang trăn năm, những nhạc cụ loại này đã dần bị quên lãng, thay vào đó là sự xuất hiện của 2 loại nhạc cụ mới hoàn toàn: Đó là viol và violon.
 
Đàn viol xuất hiện trước violon, có nhiều cỡ to nhỏ khác nhau và được chơi theo 2 cách: Hoặc là kẹp giữa 2 đầu gối như cello, hoặc là đặt trên đầu gối. Ngoài ra còn có một số loại viol , khi chơi được đặt lên vai như đàn violon hiện nay. 
Mới nhìn qua thì đàn viol khá giống với đàn violon, nhưng giữa 2 nhạc cụ có những điểm khác biệt rất cơ bản: Bề mặt cần đàn viol thì được chia thành từng quãng giống đàn ghita, còn của violon thì phẳng nhẵn. Dây đàn viol thường là 6 dây, có loại 7 hoặc 5 dây, còn 4 dây như violon thì rất hiếm. Hình dáng bên ngoài của 2 nhạc cụ chỉ giống nhau ở những nét chung, còn về chi tiết thì khác nhau rõ nét. Nhưng điểm khác biệt chủ yếu giữa 2 nhạc cụ chính là âm thanh phát ra. Tiếng đàn viol thì mềm mại, dường như hơi bí và yếu hơn tiếng đàn violon.
 
Viol chỉ thích hợp với những phòng hòa nhạc nhỏ với số lượng thính giả có hạn. Còn tiếng đoàn violon thì khỏe, sang và hoành tráng hơn nhiều, thích hợp với những phòng hòa nhạc lớn và kể cả ngoài trời. Vào thời đó, viol là nhạc cụ dành cho giới quý tộc, còn violon thì sau khi ra đời khá lâu, trước khi chiếm vị trí độc tôn của viol, đã từng là nhạc cụ dành cho quần chúng nhân dân, thậm chí cho tới nay vẫn phổ biến trong nhân dân các nước như Mondavi Rumani và Hungary.
 
Không ai biết chính xác violon ra đời khi nào, nhưng các nhà khoa học ước đoán rằng, xét về thời gian xuất hiện của nó, thì violon ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XV hay đầu thế kỷ XVI. Những chiếc violon đầu tiên được chế tạo bởi những nghệ nhân làm đàn viol, sau đó mới xuất hiện những nghệ nhân làm đàn violon. Một trong số họ, Gasparo Bertolotti là một nghệ nhân nổi tiếng ở thành phố Breshia vào nửa sau thế kỷ XVI. Bertolotti có rất nhiều học trò, trong đó nổi bật lên là Jovanni Paolo Maggini, người mà sau này đã sáng lập ra trường phái làm đàn riêng của mình.
 
 
 
 
Bertolotti, Maggini và những hoc trò của họ đã chế tạo được những cây đàn violon ngày nay. Tiếng đàn phát ra đã khỏe và sang hơn nhiều so với viol. Những công việc còn lại để hoàn thiện cây đàn violon sau này mới được các nghệ nhân trường phái Crémona nổi tiếng hoàn thành. Người sáng lập ra trường phái này là Andréa Amati. Ông và các học trò của mình đặt ra nhiệm vụ là làm sao cho tiếng đàn violon phải đạt tới tiêu chuẩn giống với giọng con người, có nghĩa là âm vực của nó rất sâu lắng, dầy dặn và ấm áp với các sắc thái khác nhau, còn tính chất của tiếng đàn thì rất linh hoạt, uyển chuyển, có khả năng thay đổi nhanh, ví dụ như từ chỗ thể hiện hào hung, dữ dội, đầy kịch tính tới những đoạn trầm lắng, thiết tha, lãng mạn.
 
Đàn violon giống như giọng nói con người, phải thể hiện tất cả những cảm xúc của con người. Những chiếc đàn violon danh hư bất truyền mà các nghệ nhân Ý để lại đã cho chúng ta thấy tài năng xuất chúng của họ. Dưới bàn tay của hộ chiếc đàn violon đã đạt tới đỉnh cao của sự hoàn thiện và cái đẹp tận mỹ. Ngoài Amati còn có những nghệ nhân Ý khác như Stradivari, Guarneri, nhưngc người đã cống hiến cho nhân loại những cây đàn violon lịch sử, mà giá trị có chiếc đã đạt tới 10 triệu đôla Mỹ. Rồi dần dần những chiếc đàn viol đã chìm vào quên lãng để nhường chỗ cho cây đàn violon. Càng ngày đàn violon càng được mọi người trên thế giới yêu thích, ngưỡng mộ và nó được mệnh danh là “Ông Hoàng của tất cả các loại nhạc cụ”.
***
Cây vĩ cầm mà nhạc trưởng tàu Titanic chơi khi con chìm dần dưới những lớp sóng vừa được bán với giá kỷ lục gần 1,5 triệu USD.
 
Nhạc cụ bị nước biển bào mòn và hiện không thể chơi được, được cho là thuộc về nhạc trưởng Wallace Hartley, một trong hơn 1.500 nạn nhân vụ chìm tàu.
 
Câu chuyện ban nhạc của Hartley tiếp tục chơi trên boong tàu đến giờ chót của thảm họa là một đoạn khó quên trong bộ phim “Titanic” của James Cameron. Khi đó, Hartley và đồng nghiệp chơi bài Thánh ca “Càng gần Chúa hơn” khi những hành khách xung quanh la hét và chết đuối trong nước lạnh.
Chiếc đàn vĩ cầm được tìm thấy trong một chiếc túi buộc vào thi thể nhạc trưởng khi được trục vớt từ dưới nước băng giá. Đàn là món quà của người yêu Hartley, Maria Robinson. Năm 2006, nó được phát hiện trong một gác mái ở Yorkshire, Anh, và sau 7 năm nghiên cứu mới được công nhận là đồ thật.
 
Theo Telegraph, một nhà sưu tập các kỷ vật của tàu Titantic người Anh hôm 19/10 mua nó với giá 1,45 triệu USD. Khi cộng các chi phí khác, tổng chi phí là 1,7 triệu USD.
 
Nó phá kỷ lục thế giới trước đó của một đồ vật liên quan đến Titanic là sơ đồ tàu, dùng trong cuộc điều tra con tàu đắm vào năm 1912. Tấm sơ đồ được bán với giá hơn 350.000 USD cách đây hai năm.
 
“Cây đàn là biểu tượng của tình yêu. Một nam thanh niên buộc nó vào người vì đó là món quà đính hôn của người yêu. Nó cũng thể hiện sự dũng cảm. Ông ấy biết sẽ không có thuyền cứu sinh”, Andrew Aldridge, một chuyên gia định giá của nhà đấu giá, nói về ý nghĩa cây đàn.
 
“Nó tượng trưng cho mọi điều tốt đẹp của con người, không chỉ Wallace Hartley và dàn nhạc của ông, mà còn của tất cả đàn ông, phụ nữ và trẻ nhỏ thiệt mạng”, ông nói.
 
Titanic là tàu du lịch sang trọng, chở theo hơn 1.300 hành khách và 900 thủy thủ đoàn, đi từ châu Âu đến châu Mỹ. Titanic đâm phải một tảng băng lúc 23h40 ngày 14/4/1912 tại địa điểm cách Newfoundland của Canada 740km và chìm trong vòng hơn hai giờ đồng hồ.
 
Chỉ có 713 người được cứu sống. Những người còn lại, gồm cả giới thượng lưu trong xã hội lẫn những người lao động nghèo khó, cùng với con tàu huyền thoại mãi mãi nằm lại dưới lòng Đại Tây Dương.
***
Vĩ cầm hay Violon (Vi-ô-lông) là loại đàn có kích thước nhỏ nhất và thanh âm cao nhất trong họ vĩ cầm. Đàn gồm có bốn dây, mỗi dây cách nhau một quãng năm đúng. Vĩ cầm phát triển vào thế kỉ 16 ở Ý và tiếp tục được cải tiến trong suốt thế kỉ 18 và 19. Các nhạc công vĩ cầm và người sưu tầm thường đánh giá cao đàn được làm bởi Gasparo da Salò, Giovanni Paolo Maggini, Antonio Stradivari, Guarneri, Amati và Jacob Stainer. Loại đàn dùng cho người lớn có chiều dài khoảng 60 cm, rộng khoảng 20 cm, và luôn có kèm một cây vĩ có dây làm bằng lông đuôi ngựa, loại cao cấp hơn có thể làm bằng vây của cá voi nhưng ngày nay thường được làm bằng chất liệu ni lông hóa học có tình đàn hồi và khả năng sử dụng cao hơn. Đàn được làm từ các loại gỗ khác nhau như gỗ phong, vân sam… còn dây đàn được làm bằng thép hoặc ni lông. Người chơi vĩ cầm tạo ra âm thanh nhờ kéo hoặc gẩy đàn bằng tay phải và bấm nốt bằng tay trái. Vĩ cầm được sử dụng trong nhiều thể loại nhạc, bao gồm nhạc cổ điển, nhạc Baroque, jazz, âm nhạc dân gian và cả nhạc rock.
Họ vĩ cầm còn có ba loại khác là: Viola; Cello và Contrabass
Nhạc cụ dây ra đời sớm nhất chủ yếu được chơi bằng cách gẩy vào dây đàn (ví dụ như đàn lyre của Hi Lạp). Nhạc cụ dây dùng vĩ có lẽ bắt nguồn từ vùng Trung Á. Những người thuộc dân tộc Turk và Mông Cổ được xem như là những nhạc công đầu tiên sử dụng nhạc cụ dây dùng vĩ. Nhạc cụ của họ gồm hai dây, cả dây đàn và vĩ kéo đều làm từ lông đuôi ngựa. Nhạc cụ dây lan rộng đến Trung Quốc, Ấn Độ, Đế quốc Đông La Mã (Byzantine) và Trung Đông, sau đó được phát triển thành đàn erhu, đàn rehab, đàn lyra và đàn esraj.
Vĩ cầm bốn dây đầu tiên được cho là của Andrea Amati, sản xuất năm 1555 (các loại vĩ cầm khác xuất hiện sớm hơn và chỉ có ba dây, được gọi là violetta). Vĩ cầm lập tức trở nên phổ biến với những nhạc công đường phố cho đến giới quí tộc.
Những thợ làm đàn nổi tiếng nhất từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18 tập trung ở Brescia và Cremona, Ý, gồm có Dalla Corna, Micheli, Inverardi, Gasparo da Salò, Giovanni Paolo Maggini, Amati, Guarneri và Stradivari.
Ngày nay, các nhạc cụ từ thời hoàng kim của chế tác vĩ cầm, nhất là những cây đàn được làm bởi Stradivari và Guarneri del Gesù, được nhiều nghệ sĩ và các nhà sưu tầm săn lùng. Kỉ lục hiện nay là cây đàn Lady Blunt của Stradivari, được bán với giá 9.8 triệu bảng Anh vào ngày 20/6/2011.
Thân hộp vĩ cầm hầu như được làm toàn bộ bằng gỗ. Một cây vĩ cầm truyền thống thường có mặt trước làm bằng gỗ vân sam còn mặt sau, hai bên và cổ làm bằng gỗ thông. Hai mặt đàn thường được chế tạo thủ công. Để chế tạo mặt bên đàn, người ta hun nóng gỗ và uốn quanh các khuôn. Nhìn từ phía trước, thân vĩ cầm có thể chia làm ba bộ phận: phần trên và phần dưới nở rộng, phần giữa hẹp giới hạn bởi hai chữ C quay lưng vào nhau. Hai khe hình chữ S và tấm nâng nằm ở gần như chính giữa thân đàn. Phía trên thân đàn là cần đàn, tiếp đến là hộp chốt và cuộn xoắn ốc. Cần đàn, hộp chốt và cuộn xoắn thường được tạc từ một mảnh gỗ nguyên. Gắn liền với cần đàn và kéo dài xuống đến phần giữa của thân đàn là bàn phím. Bàn phím là một thanh gỗ, thường là gỗ thông, được đẽo cong về hai bên và được dán lên cần đàn. Nơi tiếp nối giữa bàn phím và hộp chốt có một mảnh gỗ nhô lên đỡ lấy dây đàn gọi là mấu. Hộp chốt gồm bốn chốt lên dây. Người ta thường dùng gỗ mun để làm các chốt lên dây, bàn phím và mấu, ngoài ra có thể dùng các loại gỗ khác có màu tối như hoàng dương hoặc hồng mộc. Chốt mắc dây gắn ở phần dưới thân đàn, thường được làm bằng gỗ mun hoặc các loại gỗ khác có màu tối, nhưng ngày nay có thể làm bằng nhựa hoặc các vật liệu tổng hợp. Chốt mắc dây vừa dùng để gắn dây với thân đàn, vừa có thể dùng để lên dây với biên độ hẹp và độ chính xác cao. Ngựa đàn là một mảnh gỗ hoặc nhựa nâng dây đàn lên khỏi mặt đàn, truyền dao động của dây đến cột trụ và thanh dọc bên trong. Ngựa đàn không bị gắn chặt vào thân đàn mà được các dây đàn giữ ở đúng vị trí. Các khe hình chữ S ở hai bên ngựa đàn, làm nhiệm vụ cho không khí đi vào và đi ra khỏi hộp đàn, tạo nên âm thanh. Ngoài ra các khe hình chữ S còn cho phép tiếp cận với những phần bên trong hộp đàn nếu cần sửa chữa. Bên trong vĩ cầm có hai bộ phận quan trọng: que chống và thanh dọc. Que chống bị kẹp giữa mặt trước và mặt sau của đàn, còn thanh dọc thì được dán lên phía trong của mặt trước, song song với dây đàn. Ngoài chức năng tăng cường sức chịu lực của mặt đàn, hai bộ phận trên còn có tác dụng truyền dao động của dây xuống hộp đàn.
Dây vĩ trước kia được làm từ ruột ngựa (hoặc trâu, bò, cừu). Ngày nay dây đàn có thể làm bằng ruột động vật, thép hoặc các vật liệu tổng hợp và được bọc ngoài bởi dây kim loại. Dây mi thường không được bọc ngoài và làm bằng thép trần hoặc được mạ vàng. Người chơi vĩ cầm thường phải thay dây khi nó không còn giữ được âm thanh và độ căng như ban đầu.
Theo truyền thống, vĩ được làm bằng gỗ còn dây vĩ làm từ lông đuôi ngựa, nhưng cũng có lúc lông nhân tạo được dùng để thay thế. Ngày nay, người ta còn dùng thủy tinh hữu cơ và sợi carbon để làm vĩ. Dây vĩ được phủ colophane (nhựa thông) định kì để làm tăng độ ma sát với dây đàn. Dây vĩ được kéo căng nhờ một con ốc gắn ở quai (bộ phận mà người chơi giữ lấy khi đang chơi đàn). Vĩ dành cho violin dài khoảng 29 inch (75 cm), rộng 3 cm và nặng khoảng 60 g (2.1 oz).
Vĩ cầm có nhiều kích cỡ khác nhau để phù hợp với người chơi đàn. Ngoài cỡ lớn nhất 4/4, còn có cỡ 3/4, 1/2, 1/4, 1/8, 1/10, 1/16, 1/32, thậm chí là 1/64. Đàn với kích cỡ nhỏ thường hiếm được sản xuất và chủ yếu là được đặt hàng riêng. Độ dài của riêng phần hộp đàn đối với cỡ 4/4 là khoảng 14 inch (35 cm), cỡ 3/4 là khoảng 13 inch (33 cm) và cỡ 1/2 là khoảng 12 inch (30 cm).
Lên dây đàn
Cao độ của các nốt trên vĩ cầm thường được điều chỉnh bằng cách vặn chốt hoặc dùng dụng cụ chỉnh gắn trên chốt mắc dây. Dây vĩ cầm được lên với cao độ sol – rê – la – mi. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, người chơi có thể lên dây không đúng với cao độ chuẩn, ví dụ dây sol được điều chỉnh lên một cung thành la. Cách lên dây không đúng chuẩn này được gọi là scordatura hoặc cross-tuning. Ví dụ như trong Danse Macabre của Saint-Saëns, đàn violin solo có dây mi được hạ thấp xuống thành mi giáng hoặc trong chương thứ ba của bản Contrast (Béla Bartók), dây mi cũng được hạ xuống thành mi giáng và dây sol được nâng lên thành sol thăng. Thông thường, người chơi lên dây la trước tiên (440 Hz) sau đó kéo hai dây liền một lúc để kiểm tra cao độ.
Kỹ thuật chơi đàn
Thế bấm thứ nhất
Cách cầm đàn: Đặt đàn lên vai trái, để cằm lên trên miếng đỡ cằm (chinrest). Tay trái cầm vào cần đàn, làm nhiệm vụ bấm nốt, còn tay phải cầm vĩ. Có hai cách chơi đàn là kéo (arco) và gẩy (pizzicato).
Vĩ cầm không có phím như dương cầm hay ghi-ta nên người chơi phải nhớ chính xác vị trí các nốt trên dây qua việc luyện tập và luyện nghe thường xuyên. Người mới bắt đầu có thể dùng băng dính dán lên các vị trí nốt nhạc hoặc chấm bút xóa trắng lên cần đàn.
Các ngón tay được đánh số từ 1 đến 4, trong đó ngón trỏ là số 1, ngón giữa là số 2, ngón áp út là số 3 và ngón út là số 4. Số 0 dùng để chỉ dây buông. Thường thì các bản nhạc được đánh số ngón tay chỉ dẫn để tạo thuận lợi cho người chơi.
Vị trí của các thế tay trên cần đàn được gọi là thế bấm. Người mới bắt đầu thường học thế bấm thứ nhất trước tiên vì đây là thế bấm thông dụng nhất trong các loại đàn dây (tuy nhiên một số phương pháp dạy thế bấm thứ ba trước). Nốt thấp nhất trong hệ âm chuẩn là dây buông sol, nốt cao nhất trong thế một là si, hoặc với tay lên nửa cung thành nốt đô. Di chuyển ngón cái dọc cần đàn, bấm ngón 1 vào nốt thứ hai của thế bấm thứ nhất tức là chuyển lên thế hai, bấm ngón 1 vào nốt thứ ba của thế bấm thế nhất tức là chuyển lên thế ba… Chuyển từ thế bấm này sang thế bấm khác được gọi là chuyển thế (shifting). Người ta thường gọi tên các thế tay thấp hơn thế 7, các thế cao hơn thường không gọi tên. Thế tay cao nhất thực ra là thứ 15.
Kéo hoặc gẩy vào các dây buông tạo ra âm thanh khác so với những nốt bấm cùng cao độ. Ngoại trừ dây buông thấp nhất là sol, các dây buông khác thường bị tránh trong một số lối chơi cổ điển vì có âm thanh sắc hơn và không thể rung được. Trong một vài trường hợp, các nhà sọan nhạc cố ý sử dụng dây buông để tạo ra âm thanh đặc biệt hoặc dùng để chơi trong những đoạn nhạc có tốc độ nhanh. Dây buông cũng được kéo đồng thời với nốt bấm cùng cao độ để tăng âm lượng, nhất là khi chơi trong dàn nhạc giao hưởng.
Hợp âm là hai hay nhiều nốt được chơi cùng một lúc. Trong khi tay trái chặn các phím, tay phải kéo trên hai dây hoặc lướt qua các dây.
Âm bồi (harmonic)
Tự nhiên: Dùng ngón tay đặt hờ lên 1 vị trí nhất định của dây đàn, kéo vĩ ta có âm bồi. Ký hiệu số 0 trên nốt. Vĩ cầm chơi được nhiều nhất 4 âm bồi trên mỗi dây.
Nhân tạo: Dùng 1 âm bấm chính và 1 âm bấm hờ, tạo ra âm thứ 3 là âm bồi.
Khoảng cách giữa âm chính và âm hờ càng gần thì âm 3 càng cao.
Khoảng cách giữa âm chính và âm hờ = một quãng 5 đúng thì âm bồi cách âm chính một quãng 8 đúng + một quãng 5 đúng.
Khoảng cách giữa âm chính và âm hờ = một quãng 4 đúng thì âm bồi cách âm chính hai quãng 8 đúng.
Khoảng cách giữa âm chính và âm hờ = một quãng 3 trưởng thì âm bồi cách âm chính hai quãng 8 đúng + một quãng 3 trưởng.
Khoảng cách giữa âm chính và âm hờ = một quãng 3 thứ thì âm bồi cách âm chính hai quãng 8 đúng + một quãng 5 đúng.
Rung (vibrato) là một kĩ thuật của bàn tay và cánh tay trái. Ngón bấm phải di chuyển nhanh và nhẹ trên một quãng rất ngắn, làm cho các nốt ngân dài hay và truyền cảm hơn. Có hai cách rung là rung cổ tay và rung cánh tay. Thường thì các nghệ sĩ kết hợp giữa hai kiểu rung này để tạo ra sự đa dạng trong hiệu ứng âm thanh.
Ngoài ra, còn có các kĩ thuật kéo đàn khác như Legato, Collé, Ricochet, Sautillé, Martelé, Cog legno, Tremolo, Sordino (mute), Spiccato và Staccato…
Legato: kéo liền tiếng đàn, ký hiệu vòng cung nối giữa các nốt
Staccato: âm thanh sắc, gọn, ký hiệu dấu chấm trên nốt, khác với Staccato volante: có dấu legato dưới các nốt có chấm.
Martele: nảy các nốt tốc độ ko nhanh, cường độ mạnh vừa phải, ký hiệu dấu phẩy
Sautile: nảy các nốt tốc độ nhanh, cường độ yếu, ký hiệu như Martele
Santando: vung archet lên, cho nảy vài nốt trên dây đàn
Portamento: nhấn từng nốt, cường độ đều nhau
Trill: láy
Tremollo: vê
Con surdino: hãm, làm cho tiếng xa xăm, nhỏ yếu.
Cog legno: dùng sống lưng cây vĩ hoặc cả sống lưng cùng dây vĩ đập vào dây đàn
Marcato: sử dụng ở gốc archet
Glissando: vuốt
Kĩ thuật gẩy trên dây đàn được gọi là pizzicato hoặc pizz.. Tay phải giữ chắc vĩ và gẩy bằng ngón giữa. Trong một vài trường hợp khi không thể gẩy bằng tay phải hoặc với mục đích trình diễn ấn tượng, các nghệ sĩ gẩy đàn bằng tay trái. Một ngón tay (thường là ngón giữa), bấm vào nốt cần chơi, còn ngón áp út hoặc ngón út làm nhiệm vụ gẩy. Kí hiệu gẩy bằng tay trái trong bản nhạc là một dấu cộng (+) ở phía trên hoặc ngay dưới nốt nhạc.
Tại Việt Nam
 
Làng Then, thuộc xã Thái Đào, Lạng Giang, Bắc Giang là ngôi làng duy nhất tại Việt Nam có truyền thống chơi vĩ cầm suốt gần 60 năm nay. Đây là ngôi làng đã sinh ra những người làm văn hóa – nghệ thuật, âm nhạc như: Trần Vinh, Bùi Đắc Sừ, Quốc Minh, Hà Huy Bái, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Đưa, là những nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn, nhạc công đã nổi danh trên làng văn hóa nghệ thuật.
***
Độc đáo “làng vĩ cầm” duy nhất tại Việt Nam
Làng Then, thuộc xã Thái Đào – Lạng Giang – Bắc Giang, ngôi làng duy nhất tại Việt Nam có truyền thống chơi vĩ cầm suốt gần 60 năm nay.
Đây là ngôi làng đã sinh ra những người làm văn hóa – nghệ thuật, âm nhạc như: Trần Vinh, Bùi Đắc Sừ, Quốc Minh, Hà Huy Bái, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Đưa, là những nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn, nhạc công đã nổi danh trên làng văn hóa nghệ thuật.
Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.
Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, “tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon” -ông chia sẻ.
Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: “Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này”
Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: “các cháu tìm ai”, một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, “khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm” – bà cười nói.
Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: “Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa”. Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.
Ông Nguyễn Hữu Đưa, đã 80 tuổi, nhưng hàng ngày vẫn mải mê với những bản nhạc
Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. “Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được”- cụ bà chia sẻ.
Ba thế hệ cùng một niềm đam mê
Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.
***
Chuyện tình buồn đằng sau cây vĩ cầm tìm thấy trên tàu Titanic
 
Khi tàu Titanic chìm xuống, ban nhạc danh tiếng trên tàu cũng cùng chịu cảnh bi kịch với nó. Hơn 100 năm sau, người ta tìm thấy cây vĩ cầm của vị nhạc trưởng năm xưa và hé mở chuyện tình đẹp nhưng buồn của ông.
Cây vĩ cầm thuộc về nhạc trưởng Wallace Hartley vốn được cho là đã thất lạc nhưng vào năm 2006, con trai của một nhạc công nghiệp dư đã tìm thấy nó trên tầng gác mái nhà mình. Trên thân đàn có một mảnh bạc chạm khắc những thông tin giúp làm rõ nguồn gốc cây đàn.
 
Sau 7 năm nghiên cứu và tìm hiểu, cả quá trình tốn kém hàng ngàn bảng Anh, cuối cùng người ta đã có thể khẳng định cây vĩ cầm có chất liệu tuyệt vời, chống thấm nước này chính là cây đàn từng được nhạc trưởng Hartley chơi trên tàu Titanic.
 
Trong những phút đầu tiên khi con tàu Titanic đâm phải tảng băng trôi ngày 14/4/1912, vị nhạc trưởng 24 tuổi được lệnh triệu tập ban nhạc và chơi đàn để giúp hành khách bình tĩnh hơn trước cơn hoảng loạn. 8 nhạc công đã vô cùng dũng cảm đứng biểu diễn trên boong tàu trong khi hành khách tranh nhau leo lên thuyền cứu hộ.
 
Ban nhạc cứ tiếp tục chơi cho tới khi kết cục bi thảm nhất đến với họ. Được biết trong những giờ phút cuối cùng, họ đã chơi bản thánh ca nổi tiếng “Nearer, My God, To Thee” (Gửi Người, con đang tới gần hơn với Chúa).
 
Nhạc trưởng Hartley và những 7 thành viên trong ban nhạc và hơn 1.500 hành khách, thủy thủ đoàn đã vĩnh viễn nằm dưới đáy đại dương cùng con tàu huyền thoại rạng sáng ngày 15/4.
 
Cây vĩ cầm đóng bằng gỗ hồng sắc không thể tin nổi vẫn tồn tại gần như nguyên vẹn cho tới hôm nay bất kể thời gian và việc nó từng nằm sâu dưới đáy biển 10 ngày. Có hai vết nứt dài trên thân bởi nước biển trước đây đã khiến gỗ bị co ngót.
Miếng bạc chạm khắc thông tin gắn trên thân đàn tuy đã bị ăn mòn nhưng vẫn là bằng chứng đắc lực giúp các nhà khoa học khẳng định được nguồn gốc của nó.
 
Với tấm lòng của người nghệ sĩ, Hartley trong phút cuối cùng khi tàu sắp chìm hẳn đã bỏ cây vĩ cầm vào chiếc vali bằng da. Nhiều người cho rằng Hartley đã lợi dụng sức nổi của chiếc vali để mong cứu được cả mình và cây đàn.
 
Nhiều người lại cho rằng ông biết mình sẽ chết nên trong phút giây cuối cùng đã ôm chặt lấy tình yêu lớn trong cuộc đời ông – cây vĩ cầm, khi trục vớt, người ta thấy thi thể Hartley ôm chiếc vali đựng đàn.
 
Cây đàn là do vị hôn thê của ông trao tặng – bà Maria Robinson như một món quà đính ước giữa họ. Trên miếng bạc gắn ở thân đàn có khắc dòng chữ: “Dành tặng anh Wallace nhân ngày đính hôn của chúng mình. Em Maria.”
 
Sau khi trục vớt được cây đàn, người ta đã đem trao trả nó cho bà cùng với những vật dụng cá nhân khác của ông Hartley. Bà Robinson về sau không lấy ai khác và qua đời ở tuổi 59. Cây đàn kể từ đó lưu lạc qua nhiều đời chủ. Sau khi tìm lại được, dự kiến cây đàn quý sẽ được đem triển lãm khắp thế giới kể từ cuối tháng 3 này và sau đó sẽ đem bán đấu giá.
 
Đại diện nhà đấu giá cho biết: “Đây là món đồ quan trọng nhất gắn liền với tên tuổi con tàu Titanic và có lẽ nó cũng là món đồ có giá trị nhất bởi tất cả những câu chuyện gắn liền với lịch sử cây đàn.”
 
Cây đàn được tìm thấy trong chiếc vali da 10 ngày sau khi vụ tai nạn xảy ra. Nước biển đã làm hỏng thùng đàn với hai vết rạn.
 
Wallace trong giây phút cuối đời vẫn nhớ phải bỏ cây đàn vào chiếc vali da. Tuy vậy, môi trường nước biển vẫn gây ra hai vết rạn trên thân đàn.
 
Sau này, người ta có tìm thấy cuốn nhật ký của bà Maria Robinson – hôn thê của nhạc trưởng Hartley viết ngày 19/7/1912 rằng: “Mình muốn thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với những người đã mang về đây cây vĩ cầm của anh. Cây vĩ cầm giờ đây là sợi dây kết nối tình yêu giữa chúng ta.”
 
Bà Maria khi đó chỉ xin nhận lại cây vĩ cầm, những món đồ tùy thân của Hartley như hộp đựng thuốc lá bằng bạc hay nhẫn đeo tay bằng vàng đều được gửi lại cho cha của ông.
 
Sau khi biết bà Robinson ở vậy, cha của Harley đã vô cùng xúc động và gửi tặng những món di vật nhỏ của con trai cho bà. Chiếc vĩ cầm đặt trong hòm vali da cùng những món đồ lưu niệm được bà Robinson cất giữ cẩn thận cho tới khi bà qua đời. Đáng tiếc, sau đó, những món đồ trong nhà bà bị phân tán đi nhiều nơi và thất lạc không ít.
 
Cây đàn lưu lạc tới tay người chủ hiện nay. Người này xin được giấu tên, từng viết tới cho nhà đấu giá Henry Aldridge & Son: “Tôi nghĩ mình nên làm điều có ý nghĩa nhất đối với cây vĩ cầm. Hiện tại, nó đã không còn chơi được nữa nhưng tôi tin nó có một lịch sử lưu lạc rất đáng kể.”
 
Chiếc đàn và một vài di vật nhỏ của Hartley mà người ta còn giữ lại được cho tới hôm nay.
Lá thư mà mẹ Hartley từng viết cho con trai cũng được tìm thấy trong túi áo của ông khi người ta trục vớt con tàu.
 
Chiếc đàn sau đó được đưa tới cho các nhà khoa học nghiên cứu, khi thông tin về cây đàn được chính thức khẳng định, nhà đấu giá cho biết họ vô cùng vui sướng và mọi việc quá tuyệt vời đến mức họ không dám tin đó là sự thật.
 
“Chúng tôi đã dành ra 7 năm để thu thập đầy đủ bằng chứng và giờ đây đã đạt đến cái đích cuối cùng.”
 
Chiếc đàn và một vài di vật nhỏ của Hartley mà người ta còn giữ lại được cho tới hôm nay.
Thông điệp tình yêu được chạm trên mảnh bạc gắn ở thân đàn: “Dành tặng anh Wallace nhân ngày đính hôn của chúng mình. Em Maria.”
 
Trong những bộ phim và sách truyện kể về tàu Titanic, người ta luôn khắc họa hình ảnh nhạc trưởng Wallace Hartley chơi cây vĩ cầm.
***
Bí mật của cây đàn vĩ cầm Stradivarius
Tại sao một cây Strad nặng khoảng 1kg lại có giá cao hơn các loại đàn bậc thầy khác như Amati, Bergonzi, Ceruti, Guadagnini và Rogeri? Các chuyên gia cho rằng giá trị của nó là từ âm thanh của loại gỗ tạo nên thùng đàn. Theo các nhạc sĩ lừng danh, Strad tạo nên những âm thanh mềm mại nhưng vang vọng đến từng góc khán phòng biểu diễn.
Theo một truyền thuyết, vào một đêm trăng tròn, Stradivari từ Cremona (nơi ông lập xưởng đóng đàn năm 1666, gần 100 năm sau khi những cây đàn violon đầu tiên xuất hiện tại Ý, Anh, Ba Lan) lên núi Alpes để chọn cây vân sam làm thùng đàn. Ông áp tai vào cây, dùng búa gõ để nghe tiếng ngân, nếu hài lòng thì ông chặt cây ấy. Có lẽ ông đã “trúng vụ” trong mùa đông khắc nghiệt kéo dài từ giữa thế kỷ 17 đến năm 1715: cây mọc chậm hơn bình thường, thớ gỗ mịn hơn và chắc hơn, truyền sóng âm tốt hơn gỗ mọc trong thời tiết ấm áp.
Nhưng các nhà nghiên cứu của Trường Đại học Cambridge lại cho rằng chính lớp verni đỏ mới tạo nên bí quyết âm thanh réo rắt của Strad. Năm 1988, một nhóm nghiên cứu phân tích mẫu verni từ một cây cello sản xuất năm 1711, phát hiện một lớp verni cực mỏng có thành phần hóa học giống một loại tro núi lửa dùng để sản xuất xi măng ở Bắc Ý. Có lẽ “sư phụ” Stradivari đã trộn tro này với lòng trắng trứng gà và nước để tạo nên thùng đàn có âm thanh huyền diệu.
Nhưng có lẽ nhà hóa học Joseph Nagyvary của đại học bang Texas giải thích được rõ hơn về bí mật của cây đàn. Giả thiết của ông là do độ ẩm cao ở Cremona, Stradivari sử dụng nhiều biện pháp bảo dưỡng để gỗ cây vân sam không bị thối mục. Qua kính hiển vi, ông phát hiện dấu vết của một loại nấm thường, mọc ở các dòng sông mà các súc gỗ vân sam đã được thả bè từ núi Alpes về Cremona.
Loại nấm này mọc nhanh đến độ thay thế các tế bào của súc gỗ khiến cây đàn có âm thanh phong phú và dễ phân biệt. Ông Nagyvary bắt chước quy trình này trên những súc gỗ ở Canada và Nepal và các chuyên gia nghe âm thanh từ những cây đàn violon này đều ngỡ chúng là đàn Strad “xịn”! Hiệp hội Hóa học Mỹ cũng nói đây là một thành tựu tiên phong.
Như vậy có nghĩa rất dễ làm đàn Stradivarius giả. Nhà buôn Marcel Richters lưu ý công nghệ hiện đại có thể tạo ra mẫu giấy chứng nhận bỏ trong thùng đàn giống hệt thời Stradivari đã làm. Hiện có khoảng vài ngàn cây Stradivarius giả. Vào năm 1937 nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của cha đẻ cây đàn, một ban giám khảo ở Cremona đã kiểm tra 2.000 cây được cho là “hàng gốc” nhưng hóa ra chỉ có 40 cây là đồ thật.
***
Niccolò (hay Nicolò) Paganini (27 tháng 10 năm 1782 – 27 tháng 5 năm 1840) là một nghệ sĩ chơi violin, viola, guitar và nhà soạn nhạc người Ý. Ông được coi là một trong những nghệ sĩ violin vĩ đại nhất trong lịch sử, dù rằng không thể xác thực điều này do không có được những băng ghi âm các tác phẩm ông trình diễn. Mặc dù thế kỉ 19 ở châu Âu có một số nghệ sĩ violon xuất chúng, nhưng Paganini là nghệ sĩ bậc thầy ở thế kỉ này. Có những lời đồn đại đương thời rằng ông đã “bán linh hồn cho quỷ dữ” để có được khả năng thần kì này.
Niccolò Paganini sinh tại Genova, Ý ngày 27 tháng 10 năm 1782, con trai của Antonio và Teresa Paganini. Paganini học chơi mandolin với cha khi mới 5 tuổi, chuyển sang học violin lúc lên 7, và bắt đầu sáng tác vào năm 8 tuổi. Ông có buổi biểu diễn đầu tiên trước công chúng năm 11 tuổi. Ngay từ thời thơ ấu Paganini đã học nhạc với nhiều thầy giáo, trong đó có Giovanni Servetto và Alessandro Rolla. Cậu thiếu niên Paganini đã không khỏi choáng ngợp trước những thành công và đến năm 16 tuổi sa vào cờ bạc và rượu chè. Một thiếu phụ vô danh đã cứu sự nghiệp của Paganini khi đưa ông về điền trang của mình. Ở đó ông từ bỏ khỏi các tật xấu, tiếp tục học violin trong 3 năm. Trong thời gian này ông đồng thời học cả guitar.
Sau 3 năm này ông tiếp tục đi du lịch và biểu diền violin, sau dó quay trở lại Genova năm 1804, bắt đầu sáng tác một số tác phẩm. Thời gian này ông để ý tài năng của một cô bé học trò 7 tuổi của mình Catarina Calcagno, cô bé sau này trở thành nhạc công violin dàn nhạc giao hưởng rất nổi tiếng.
Ông tái xuất hiện trước công chúng vào năm 23 tuổi: năm 1805, vùng Lucca bị Napoleon kiểm soát, ông trở thành nhạc trưởng cho em gái của Napoleon, Elisa Baciocchi, Công nương Lucca mỗi khi ông không đi diễn. Ông trở nên nổi tiếng với vai trò nghệ sĩ violin, xuất hiện lần đầu trước công chúng Milano năm 1813, Viên năm 1828, London và Paris năm 1831. Paganini là một trong những nhạc công đầu tiên, nếu không nói là người đầu tiên đi lưu diễn với vai trò nghệ sĩ độc tấu không có những nghệ sĩ khác đi kèm. Ông có khả năng thu hút đông đảo khán giả và trở thành một siêu sao giàu có.
Nhạc cụ ưa thích của ông là cây violin Il Cannone được làm năm 1742 bởi Giuseppe Antonio Guarnieri del Gesù, được ông đặt tên là The Cannon do với nó ông có thể tạo ra những âm hưởng mạnh mẽ. Các dây đàn gần như nằm trên một mặt phẳng, khác với phần lớn các loại violin khác đặt các dây theo hình vòng cung để tránh chạm phải các dây không mong muốn khi chơi đàn. Cách đặt dây của cây Il Cannone cho phép Paganini cùng lúc đánh 3 hoặc 4 dây cùng lúc. Cây Il Cannone bây giờ được trưng bày trong tòa thị chính thành phố Genova, mỗi tháng người trông giữ nó lấy ra chơi một lần, và cho các cầm thủ nổi tiếng thuê theo định kì.
Năm 1833 tại Paris, ông đặt Hector Berlioz viết một bản viola concerto. Berlioz viết Harold in Italy nhưng Paganini chẳng bao giờ chơi bản nhạc.
Sức khỏe ông suy giảm dần do ngộ độc thủy ngân có trong thuốc chữa bệnh giang mai thời đó. Bệnh tật làm ông mất khả năng chơi violin, ông ngừng diễn năm 1834.
Ngày 27 tháng 5 năm 1840 ông mất tại Nice nước Pháp
Paganini và sự phát triển của kĩ thuật violin
 
Cầm thủ violin người Israel Ivry Gitlis nói: “Paganini là hiện tượng kì lạ chứ không là sự phát triển…đã có những vĩ cầm thủ (trước Paganini) và rồi là Paganini.” Dù rằng các kĩ thuật Paganini sử dụng đã có trước đó nhưng phần lớn các tay violin đương thời vẫn chú tâm vào âm điệu và kĩ thuật kéo vĩ (gọi là “kĩ thuật tay phải” cho cầm thủ bộ dây) là hai vấn đề cơ bản cho vĩ cầm thủ cho đến ngày nay. Cụ thể: Arcangelo Corelli (1653-1713) được xem như là người cha của kĩ thuật violin, ông đã biến vai trò cây violin từ nhạc cụ chỉ ở trong dàn nhạc trở thành nhạc cụ đơn tấu. Khoảng trong thời gian đó khả năng biểu đạt phức điệu của cây violin được khẳng định bằng các tác phẩm như Sonatas and partitas dành cho violin đơn tấu BWV 1001-1006 của Johann Sebastian Bach (1685-1750). Còn các tay violin nổi danh khác như Antonio Vivaldi (1678-1741) and Giuseppe Tartini (1692-1770). Mặc dù vậy tiến bộ của kĩ thuật violin vẫn chậm trong giai đoạn này. Kĩ thuật đòi hỏi sự nhanh nhẹn của ngón tay cũng như của cây vĩ vẫn không được thừa nhận và khuyến khích bởi những hội nghệ sĩ violin. Pietro Locatelli (1693-1746) sáng tác 24 bản caprice mà tại thời điểm viết ra rất khó để chơi, được xem như là cuộc khám khá thấu đáo đầu tiên các kĩ năng của cây violin. August Durand đã sáng tác những tác phẩm sử dụng bước đầu các hòa âm và cách móc dây bằng tay trái, cùng được xem như đã tìm ra những kĩ thuật trên.
Như vậy có thể nghi ngờ rằng Paganini đã phát hiện ra những kĩ thuật tiên phong nhưng không nghi ngờ rằng ông là người đầu tiên phổ biến rộng rãi chúng ra trước công chúng và đưa vào những tác phẩm phổ thông.
Paganini có khả năng chơi 3 quãng tám trên 4 dây trong khoảng 1 gang tay, cho đến nay vẫn còn xem như là bất khả. Các ngón tay dẻo và dài khác thường của ông được cho là hậu quả của hội chứng Marfan hay hội chứng Ehlers-Danlos. Các kĩ thuật ngón được xem là của ông gồm: chơi 2 nốt trên 2 dây cùng lúc (double stops), chơi quãng đôi, kĩ thuật móc tay trái mà ngày nay được các cầm thủ violin tập luyện thường xuyên
Ảnh hưởng của Paganini đối với âm nhạc và sáng tác
 
Âm nhạc dành cho violin đã thay đổi nhiều từ khi có Paganini. Ngay từ thời trẻ, Paganini đã có khả năng dùng violin bắt chước những âm thanh khác như tiếng sáo, tiếng chim…, bởi tính gợi tưởng tượng phong phú sinh động, những tác phẩm của Paganini không được xem là phức điệu thực sự. Eugène Ysaÿe từng phê phán rằng nhạc đệm cho nhạc của Paganini “quá giống guitar”, thiếu các yếu tố của phức điệu. Ngoài ra ông còn đưa âm sắc của nhạc cụ violin lên mức trước đây chưa từng có.
Phần dành cho giàn nhạc trong các tác phẩm của Paganini rất khiêm tốn, chủ yếu măng tính chất hỗ trợ. Các nhà phê bình cho rằng các tác phẩm concerto của Paganini dài dòng và công thức. Phần nhạc dành cho violin trong các bản concerto được ông giữ bí mật. Ông không bao giờ biểu diễn hết các đoạn violin trong khi tập thử. Sau khi ông mất chỉ có 2 trong số đó được xuất bản. Người thừa kế của Paganini đã rất dè dặt, cẩn trọng khi phát hành các bản concerto. Cho đến nay đã xuất bản tổng cộng 6 bản trong đó 2 bản cuối mất phần dành cho dàn nhạc. Các tác phẩm riêng tư dành cho guitar và các nhạc cụ dây, đặc biệt là violin, chưa bao giờ trở thành các tiết mục trình tấu chuẩn.
Paganini đã phát triển thể loại biến tấu giao hưởng cho violin trên nét chính là sử dụng chủ đề đơn giản ngây thơ cộng với các biến tấu lời trữ tình.
Paganini ảnh hưởng đến nhiều nhà soạn nhạc xuất chúng khác. Bản “La Campanella” và bản caprice số 24 được nhiều nhà soạn nhạc dựa viết các khúc biến tấu, trong số đó có Franz Liszt, Johannes Brahms, Sergei Rachmaninoff, Boris Blacher, Andrew Lloyd Webber, George Rochberg và Witold Lutosławski và nhiều người khác nữa.
Danh mục tác phẩm
 
24 caprice, cho violin đơn tấu, Op. 1
No. 1 in E major (The Arpeggio)
No. 2 in B minor
No. 3 in E minor (La Campanella)
No. 4 in C minor
No. 5 in A minor
No. 6 in G minor (The Trill)
No. 7 in A minor
No. 8 in E-flat major
No. 9 in E major (The Hunt)
No. 10 in G minor
No. 11 in C major
No. 12 in A-flat major
No. 13 in B-flat major (Devil’s Laughter)
No. 14 in E-flat major
No. 15 in E minor
No. 16 in G minor
No. 17 in E-flat major
No. 18 in C major
No. 19 in E-flat major
No. 20 in D major
No. 21 in A major
No. 22 in F major
No. 23 in E-flat major
No. 24 in A minor (Tema con variazioni)
Concerto for violin No. 1, in D major, Op. 6 (1817)
Concerto for violin No. 2, in B minor, Op. 7 (1826) (La Campanella, ‘The little bell’)
Concerto for violin No. 3, in E major (1830)
Concerto for violin No. 4, in D minor (1830)
Concerto for violin No. 5, in A minor (1830)
Concerto for violin No. 6, in E minor (1815?) đoạn cuối được hoàn thành bởi một người khác.
6 sonata dành cho violin và guitar, Op. 2&3
Op. 2, No. 1 in A major
Op. 2, No. 2 in C major
Op. 2, No. 3 in D minor
Op. 2, No. 4 in A major
Op. 2, No. 5 in D major
Op. 2, No. 6 in A minor
Op. 3, No. 1 in A major
Op. 3, No. 2 in G major
Op. 3, No. 3 in D major
Op. 3, No. 4 in A minor
Op. 3, No. 5 in A major
Op. 3, No. 6 in E minor
18 Centone di Sonate, dành cho violin và guitar
Các tác phẩm đã phân loại
Dạo đầu, chủ đề và biến tấu trên ‘La bella molinara’ (Nel cor più non mi sento) in G major và A major (Đơn tấu Violin với violin và cello đệm) của Paisiello.
Dạo đầu và biến tấu trên giai điệu ‘Cenerentola’ (Non più mesta) của Rossini.
Dạo đầu và biến tấu trên giai điệu ‘Moses’ (Dal tuo stellato soglio) của Rossini
Dạo đầu và biến tấu trên giai điệu ‘Tancredi’ (Di tanti palpiti) của Rossini
Maestoso sonata sentimentale (Biến tấu trên quốc ca Áo)
Biến tấu God Save the King
Các tác phẩm khác
I Palpiti
Perpetuela (Sonata Movimento Perpetuo)
La Primavera
Theme from “Witches’ Dance”
Sonata con variazioni (Sonata Militaire)
Napoleon Sonata
Variations, Le Streghe
Cantabile in D major
Moto Perpetuo in C major
Romanze in A minor
Tarantella in A minor
Grand sonata cho violin và guitar, in A major
Sonata cho Viola in C minor
Sonata in C cho violin đơn tấu
60 biến tấu của Barucaba
12 khúc tứ tấu for Violin, Guitar, Viola và Cello, Op. 4
No. 1 in A minor
No. 2 in C major
No. 3 in A major
No. 4 in D major
No. 5 in C major
No. 6 in D major
No. 7 in E major
No. 8 in A major
No. 9 in D major
No. 10 in A major
No. 11 in B major
No. 12 in A minor
No. 13 in F minor
No. 14
No. 15 in A Major
Các tác phẩm dựa trên Paganini
 
Cuộc đời Paganini là đề tài cho nhiều phim và chương trình truyền hình. Nổi tiếng nhất là loạt chương trình Niccolo Paganini của Liên Xô năm 1982, trong đó Paganini được đóng bởi nghệ sĩ sân khấu người Armenia, Vladimir Msryan, vào vai Armen Dzhigarkhanyan một quan chức Jesuit. Nội dung chính tập trung vào sự cáo buộc Paganini của Giáo hội công giáo La Mã, phim có nhiều chi tiết thật cũng như các huyền thoại về người nhạc sĩ. Trong đó đáng nhớ nhất là đoạn kẻ thù của Paganini phá hoại cây violin của ông trước một buổi diễn thế nhưng khi sợi dây thứ nhất đứt, Paganini tiếp tục chơi trên cây violin 3 dây, rồi 2 dây, rồi chỉ 1 dây duy nhất.
Năm 1989 diễn viên Đức Klaus Kinski đóng vai Paganini trong phim Kinski Paganini.
trần minh hiền orlando ngày 25 tháng 11 năm 2013

File:Stainer.jpg
File:Violinconsruction3.JPG
File:Lindsey Stirling.jpg
https://twitter.com/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
https://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
Tương Lai Việt Nam http://www.datviet.com/threads/197424-TƯƠng-lai-viỆt-nam
THUYẾT DUNG HÒA http://www.datviet.com/showthread.php/180340-Thuy%E1%BA%BEt-dung-h%C3%92a

 

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s