NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ LƯƠN

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ LƯƠN

Nghề Đặt Trúm Lươn https://www.youtube.com/watch?v=24JTzN_pJYY

Black M feat. Dr Beriz – La légende Black https://www.youtube.com/watch?v=BYVp2s_bd0E
Banda MS de Sergio Lizárraga – No me pidas perdón (Video Oficial) https://www.youtube.com/watch?v=S35uN2WZ9A4
Andreas Bourani – Auf uns https://www.youtube.com/watch?v=MYNLQjrBVPo
2PM 『ミダレテミナ』 https://www.youtube.com/watch?v=OexHh7uLOak
[Crayon Pop] 크레용팝 ‘어이’ Uh-ee M/V https://www.youtube.com/watch?v=yyDG3BQRdDY
[Official MV] Gọi Mưa – Trung Quân Idol https://www.youtube.com/watch?v=SVMkjcoNlxc
Funny Animal Videos – Over 13 Minutes Of Hilarious And Cute Animal Moments https://www.youtube.com/watch?v=Aw3us1P8zg4
Discover Ballet: A day in the life of a ballerina https://www.youtube.com/watch?v=rryxZjqLtNs
Piano Bar Music: Jazz Relaxing Piano Instrumental Music at Venice Cafè https://www.youtube.com/watch?v=hP_dhHaYoe8
NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ LƯƠN
trần minh hiền orlando ngày 29 tháng 9 năm 2014
Những năm gần đây do yêu cầu lươn của người Nhật càng ngày càng lên cao mà sản lượng lươn cung cấp ở Nhật và các nước Châu Á lại giảm xuống cho nên người Nhật đã khai thác qua thị trường cung cấp lươn ở Hoa Kỳ. Giới đánh cá Hoa Kỳ đã thu lợi rất nhiều khi chuyển sang bắt lươn để bán cho Nhật Bản .
***
1. Lợi ích của lươn
 
Lươn là thực phẩm giàu dinh dưỡng, thường được chế biến thành những món ngon, bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh rất tốt.
Lươn có lợi cho não vì lươn có chứa Lecithin và DHA. Món lươn có tác dụng hạ đường huyết, điều tiết đường huyết; lươn cũng là món ăn lý tưởng cho người tiểu đường và mắc các bệnh về tim mạch do chất béo trong lươn rất ít. Thịt lươn còn chứa nhiều vitamin A giúp tăng thị lực, mượt da, vì thế ăn lươn rất tốt cho những người suy nhược và phụ nữ sau khi sinh.
Theo Đông y, lươn có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết, ôn dương, kiện tỳ, bổ gan thận, khử phong, thông lạc.
2. Cách chế biến
Mùa hè, thịt lươn béo và ngon nhất. Nên chọn lươn có da màu vàng, ăn ngon hơn. Lươn da xanh thường có tính độc. Nếu mua lươn đã làm rồi thì cần xem sắc máu lươn (nếu máu đỏ tươi là lươn tươi, ngược lại nếu máu đỏ tím là lươn chết). Thịt lươn tươi thì mềm, dai; còn khi lươn đã chết thì thị bở. Da lươn sống đã làm rồi có màu vàng, óng ánh tươi, da màu xám tối là lươn chết.
 
Nên chọn thịt lươn có màu vàng, tươi
Món lươn được chế biến theo nhiều cách khác nhau để phù hợp với trị từng loại bệnh cụ thể:
Chữa suy thận, đau lưng: Lươn 250g, thịt heo 100g, hoàng kỳ 15g. Lươn làm sạch cắt khúc, thịt heo thái miếng, rồi cho cả 3 thứ vào nồi cùng nước ninh chín. Vớt bỏ hoàng kỳ là ăn được.
Chữa sa tử cung: Lươn vàng 250g, gạo tẻ 100g, cùng hành, gừng, tỏi, dầu vừng, rượu, tiêu bột, gia vị. Lươn làm sạch, cắt dạng sợi, ướp gia vị. Gạo nấu cháo, cháo chín cho thịt lươn và các gia vị vào, nấu sôi lại là dùng.
Chữa mỏi lưng, gối: Lươn vàng nửa ký, cùng rau thơm, tỏi, rượu, bột củ ấu, gia vị. Lươn làm sạch, bỏ xương và ruột, cắt thịt dạng sợi để sẵn vào bát trộn với muối và một ít bột củ ấu. Pha nước mắm, rượu, đường, gia vị, bột củ ấu thành nước sệt. Cho mỡ vào chảo đun nóng, đổ lươn vào xào rồi múc ra.
Để lại ít mỡ trong chảo, phi thơm tỏi đổ bát nước sệt đã pha vào, sau đó đổ lươn vào đảo một chút là được, bắc ra rắc rau thơm lên trên, dùng với cơm.
Chữa cơ thể suy nhược: Lươn vàng 1 con khoảng nửa kg, hành tây 40g, nấm hương 15g, rau thơm, cùng các gia vị tỏi, gừng, rượu, giấm, đường, tiêu bột, bột năng, dầu ăn, nước mắm. Lươn bỏ đầu, đuôi, ruột, làm sạch nhớt, cắt sợi dài độ 2 cm, nấm cắt dài 3 cm chần qua nước sôi, hành tây thái sợi, rau thơm cắt đoạn. Cho dầu vào chảo đun nóng, đổ lươn vào đảo qua múc ra cho ráo dầu. Để lại ít dầu trong chảo đun sôi cho hành tây, gừng, tỏi đảo có mùi thơm, thì cho lươn, nấm, xào đảo qua, cho rượu, cùng các gia vị khác vào, đảo đều, cuối cùng rắc bột tiêu và chế nước bột năng tạo sánh, múc ra bát, cho rau thơm lên ăn khi còn nóng.
Lưu ý: tuy lươn có tính bổ dưỡng, nhưng không nên ăn quá nhiều vì khó tiêu; kỵ ăn lươn chung với thịt chó, rau chân vịt, rau kinh giới.
 
Ở Việt Nam, lươn chỉ có 1 số loài. Giữa hai miền Nam, Bắc có các loài khác nhau.
 
Ở phía Bắc, chúng ta có 1 loài (Monopterus albus). Loài này nhỏ và trọng lượng chỉ từ 0,2 – 0,4 kg/con.
 
Ở phía Nam, chúng ta có phổ biến loài lươn đồng (Fluta alba). Khác với lươn phía Bắc, loài này có con nặng tới 1500 g. Ở đồng bằng sông Cửu Long, bà con thường đánh được những con lươn rất lớn vào mùa nước nổi. Cũng cần lưu ý, ở miền Nam còn có con lịch đồng (Macrotrema caliguns). Bọn này có ngoại hình cũng gần giống với con lươn.
 
Một số cơ quan thông tin đôi khi lại lẫn lộn giữa con lươn với con cá chình. Nguyên nhân việc nhầm lẫn này là vì trong tiếng Anh, cả con lươn và con cá chình đều được gọi là “eel”. Khi biên dịch, nếu không để ý thì ta rất dễ lẫn con lươn với con cá chình.
 
Đặc điểm về sinh trưởng.
 
Ở con lươn, có một quá trình rất kì lạ, đó là việc biến lươn đực thành lươn cái. Chúng ta biết rằng, lúc đẻ ra, toàn bộ lươn là lươn cái. Những con lươn có độ dài dưới 26cm đều là lươn cái. Tới năm thứ hai, khi con lươn có độ dài từ 44 – 48 cm thì chúng ta thấy số con đực và con cái tương đương nhau. Thế còn , khi xem xét những con lươn có độ dài cơ thể từ 54cm trở lên, chúng ta thấy, chúng toàn là lươn đực.
 
Ở đây có một quá trình biến dần dần từ con cái thành con đực. Lúc đầu, lươn chỉ có buồng trứng. Những lươn dài 26cm, chúng tô thấy chúng đã có nhiều trứng thành thục và đẻ. Nhưng khi xem xét những lươn có độ dài cơ thể từ 36 – 46 cm, chúng tôi thấy nhiều con ở trạng thái lưỡng tính : trong tuyến sinh dục của chúng có cả tinh sào (ở con đực) và buồng trứng ( ở con cái). Rõ rang, trong gia đoạn này, cơ quan sinh dục đực đã “mọc” thêm ra. Nó xuất hiện và hoàn thiện dần dần. Trong lúc đó, buồng trứng sau khi đã hoàn thiện nghiệm vụ sinh sản sẽ tiêu biến đi. Tinh sào càng ngày càng lớn. Tới khi cơ thể lươn dài từ 54cm trở lên thì chúng ta thấy chúng hoàn toàn thành 1 con lươn đực thực thụ ( buồng trứng tiêu giảm hết và chỉ còn lại tinh sào).
 
Khi lươn con mới nở ra từ trứng, chúng đeo dưới bụng 1 bọc noãn hoàng lớn. Ta ví nó như 1 bọc bánh mì mà mẹ đã giành cho con. Lươn con sẽ sống nhờ vào nguồn dinh dưỡng này. Chúng ít hoạt động và nằm bám vào các rễ cây thủy sinh như rễ bèo tây. Thỉnh thoảng nó mới quậy nhẹ nhàng đôi chút. Tới ngày thứ 8, trên cơ thể nó có nhiều biến đổi : vây ngực tiêu biến dần (và chỉ còn dấu vết như 1 chấm nhỏ còn sót lại); bọc noãn hoàng bé dần đi và thu thành 1 dải nhỏ nằm dưới bụng lươn; các mạch máu bao quanh noãn hoàng và vây ngực cũng thu nhỏ lại và ít dần.
 
Khoảng 2 – 3 ngày sau, chúng ta thấy noãn hoàng tiêu biến hết. Trên than lươn xuất hiện nhiều nhiễm sắc tố đên và mạch máu không thấy rõ nữa. Lúc này, con lươn khỏe hơn, than dài ra và mang dáng dấp 1 chú lươn thực thụ.
 
Toàn bộ quá trình này kéo dài khoảng 10 ngày. Sau đó, lươn bắt đầu đi kiếm ăn và lớn khá nhanh. Trong năm đàu nó có thể đạt tới 35cm. Lươn tăng trọng mạnh nhát vào năm thứ 3 trở đi.
 
Các cơ sở nuôi cho biết, nếu được cung cấp đủ thức ăn thường xuyên thì tốc độ lớn của lươn còn thăng mạnh hơn nhiều.
 
Như đã nêu ở trên, lươn ở phía Bắc chỉ nặng tối đa khoảng từ 0,2 – 0,2 kg và dài tới 62 cm. Trong lúc đó, lươn ở phía Nam có con dài tới 69cm và nặng tới 1,5kg. Ở đây vừa có tính di truyền của giống, vừa có tác động của môi trường. khí hậu nóng ấm ở phía Nam giúp cho lươn hoạt động quanh năm. Trong lúc đó, lươn ở phía Bắc có 1 thời kì dài phải ngủ đông.
 
Đặc điểm về sinh sản
 
Chỉ 1 năm là lươn đã thành thục. Lươn ở phía Bắc đẻ sớm hơn lươn ở phía Nam. Khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4, khi hoa gạo ở miền Bắc nở là bắt đầu mùa để của lươn. Nó để lai rai tới tận tháng 8, tháng 9. Cá biệt có con tới tháng 11 vẫn đẻ. Còn lươn ở phía Nam thì bắt đầu đẻ vào tháng 4, tháng 5.
 
Chúng ta quan sát thấy, lươn sống ở đồng ruộng thường đẻ sớm hơn những lươn sống ở đầm, hồ, ao. Khu vực nào có nhiều thức ăn thì lươn đẻ sớm hơn.
 
Trứng lươn rất nhiều. Con càng lớn càng mang nhiều trứng. Số lượng trứng có thể di động từ vài trăm trứng tới cả nghìn trứng. ngay trong 1 buồng trứng cũng có các kích cỡ trứng khác nhau. Lươn đẻ làm nhiều lần. mỗi lần khoảng 50 trứng. Cũng có con đẻ với số lượng lớn hơn. Lươn đẻ trứng ở cửa hang. Vì vậy, sắp tới mùa đẻ nó tích cực đào hang và củng cố hang.
 
Lươn thường tìm những bờ ruộng, bờ ao hoặc ven các mương máng có đất sét pha đất thịt để làm tổ. Đôi khi, nó còn chọn cả các mô đất cao ở giữa ruộng. Chúng tôi đã thấy ở nhiều ngôi mộ mà bà con để ở giữa ruộng thường có tổ lươn ở xung quanh.
 
Việc đào hang do lươn đực đảm nhận. Nó thăm dò khá kỹ khu vực sinh sống của mình để chọn chỗ làm hang. Trước mùa sinh đẻ, ta thường thấy lươn đực lượn đi, lượn lại quanh bờ nhiều lần ( trong lúc, lươn cái vẫn đi kiếm ăn ở khắp nơi). Thậm chí, nói còn bò cả lên bờ để tìm hiểu về vùng đất đó. Sau khi quan sát kĩ, lươn đực sẽ dùng đuôi và ngoáy vào bờ đất để đào hang. Công việc diễn ra trong nhiều ngày. Nó đào sâu vào trong lòng đất và đi chếch xuống phía dưới. Cửa hang thường cách mép nước 3 – 5 cm. Được một đoạn khoảng 15 – 20 cm, nó làm hang phình to ra. Đó là lối thoát hiểm. Ngoài ra, cũng có hang chúng tôi phát hiện thấy có đường thông lên trên mặt đất. Phải chăng, đó là đường thông khí.
 
 
Lươn đực làm xong hang sẽ mời lươn cái vào cùng ở. Tới mùa sinh sản, lươn đực phun đầy bọt ( thực tế là tinh trùng) còn lươn cái thì đẻ trứng lên đó. Lúc đầu, đám bọt có màu trắng, kích cỡ lớn hơn bọt của cá rô cờ (Macropodus chinensis). Tới khi trứng sắp nở, đám bọt đó ngả sang màu vàng.
 
Những người đi bắt lươn thường coi đám bọt là biệu hiện rõ rệt của hang lươn.
 
Tới mùa sinh sản, lươn rất dữ. Nó thường nằm trong hang hoặc lượn lờ quanh hang để giữ trứng. Nếu có vật lạ thò vào ổ đẻ thì lươn lao ra cắn ngay. Chúng quyết bảo vệ nòi giống. Thậm chí, nếu có tiếng động mạnh, nó có thể nuốt cả đám trứng vào bụng của nó.
 
Với tiết trời nắng ấm, có gió đông nam và nhiệt độ khoảng 24 – 26oC, đặt biệt là sau những trận mưa rào, lươn thường đẻ rộ. Nó đẻ vào sáng sớm. Lúc này, lươn đực làm nhiệm vụ canh gác cho tổ đẻ. Ta thường thấy nó lượn lờ quanh ao hoặc nằm im trong các lỗ khuất để canh chừng kẻ thù.
 
Sau khi đẻ từ 7 – 10 ngày thì trứng nở. Lươn con sinh ra chỉ dài tối đa 2cm và nhỏ như sợi chỉ. Lúc này nó chưa biết bơi. Chúng buông mình xuống đáy ao và nằm ở đó như chết. Ít ngày sau, nó mới bắt đầu bơi đi để kiếm ăn.
 
Thành phần thức ăn và hoạt động bắt mồi của lươn
 
Lươn là loài ăn tạp nhưng nghiêng về thức ăn động vật. Để biết được thành phần thức ăn mà lươn đã tìm kiếm, chúng tôi đã mổ ngay lươn ra và quan sát xem, chúng đưa vào ruột những thứ gì. Chúng ăn đủ thứ. Trong ruột của chúng có giun nước, giáp xác (tôm, tép, cua…), các loài côn trùng ( cánh cứng, niềng niễng, muỗi, kiến, ấu trùng của chuồn chuồn…), nòng nọc, ếch nhái nhỏ, cá con, ốc v.v..Ngoài ra, chúng ta còn thấy trong ruột lươn cả những chất lạ như : mùn bã, đất sét, lá lúa non, rễ bèo…Tuy nhiên thức ăn chủ yếu của chúng là động vật. Việc đuổi bắt các loài động vật sống của chúng kém vì mắt nó không tinh. Tuy nhiên, khứu giác của lươn lại rất nhạy. Vì vậy, chúng rất dễ phát hiện các nguồn thức ăn động vật đã thối rữa. Trong thực tế, khi ta đưa các vật đã thối rữa xuống nước thì chỉ sau một thời gian ngắn, lươn đã mò tới. Chúng tôi đã thử nghiệm đưa các loại thức ăn khác nhau vào các ống trúm khác nhau. Rõ rang, loại nào nặng mùi nhất thì lươn đến ngay. Đặc biệt là cua, cóc sau khi đập chết, phơi nắng cho dậy mùi sẽ là loại mồi mà lươn rất mê.
 
Về nguồn thức ăn thực vật thì chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào. Các mẫu thực vật được phát hiện trong bụng lươn có thể do chúng đã ăn lẫn phải khi đớp mồi động vật. Tuy nhiên, khi nghiên cứu để dưa ra qui trình nuôi lươn, chúng tôi đã cho chúng thử ăn các thức ăn tổng hợp. Trong các mẫu thức ăn này, nhiều công thức được trộn thêm cám gạo, bột ngô, bột sắn, mì với tỉ lệ dưới 30%. Chúng tôi quan sát thấy, lươn cũng ăn rất mạnh. Vì vậy, cho lươn là loài ăn tạp cũng không có gì phải băn khoăn. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng, thức ăn của lươn chủ yếu là thức ăn động vật.
 
Vào mùa lươn để, lươn hầu như không ăn. Lúc này nó chăm chú cho việc đẻ và việc bảo vệ trứng của nó. Chúng ít đi lại mà cứ nằm lỳ một chỗ bên cạnh nơi lươn cái đẻ. Đến khi trứng đã nở và đàn lươn con đã có thể tự đi kiếm ăn thì lúc đó nó mới bỏ đi tìm mồi.
 
Lươn bắt mồi mạnh nhất vào thời kỳ từ tháng 5 -7. lúc này, nguồn thức ăn trong tự nhiên cũng dồi dào và khí hậu cũng thích hợp.
 
Tập tính của lươn là hoạt động vào ban đêm. Chỉ khi đêm xuống chúng mới mò đi kiếm ăn. Tập tính này có thể bị phá vỡ khi chúng ta tiến hành nuôi tập trung. Các tính hiệu như : tiếng động, ánh sáng đều có thể gây được phản xạ để lươn kéo ra ăn khi chúng ta đã luyện cho chúng.
 
Bình thường, vào ban ngày, lươn thường nằm trong hang và quay đầu ra phía ngoài. Ở tư thế này, các chú tôm tép nhỏ khi đi qua cũng dễ bị chúng thủ tiêu.
 
Cũng có trường hợp, trong bụng lươn lớn có cả lươn con. Cũng có thể do khan hiếm thức ăn nên chúng đã ăn cả đồng loại. điều này nhắc nhở chúng ta, khi thả lươn không nên thả lẫn lộn cả lớn, cả bé.
 
Những người bắt lươn chuyên nghiệp cho chúng tôi biết, lươn béo nhất vào lúc nó đang đẻ (khoảng tháng 2 -3) và vào mua thu ( khoảng tháng 8 – 9). Tuổi càng cao, lươn càng béo. Thời kỳ sau khi đẻ, lươn đi kiếm ăn rất hăng. Chúng mau chóng hồi phục lại cơ thể.
 
Dựa vào các đặc điểm và tập tính, người ta đã lên kế hoạch đi săn lùng lươn.
 
Người bắt lươn thường xác định những nơi lươn thường ở. Đó là những nơi có đất bùn hoặc đất thịt pha sét. Màu sắc của lươn thường giống với màu đất ở đấy. Nếu có động, chúng lùi nhanh vào trông môi trường. Mùa hè, lươn hoạt động là chủ yếu. Nó thường đi kiếm ăn sau các trận mưa rào. Cũng có lúc, ta bắt gặp chúng kéo nhau đi thành đàn.
 
Ở phía Bắc, khi gió mùa đông bắc tràn về, lươn chui vào hang hoặc chui sâu xuống dưới bùn. Nhiều trường hợp, sau khi tát cạn ao, bà con phơi ao hàng tháng. Đất trên mặt ao đã khô nứt nẻ. Thế nhưng, khi chúng ta xắn đất vẫn phát hiện ra những chú lươn nằm sâu dưới đó. Nó vẫn sống bình thường. Khi bắt lên và thả vào nước là nó bơi ngay tức khắc. Chúng có các cơ quan hô hấp phụ nên vẫn có thể sống hàng tháng dưới lớp đất đó.
 
Thời kì bắt lươn bằng tay chủ yếu vào mùa lươn đẻ ( mùa mưa). Còn mùa khô ( tháng 11 – 4) người ta thường bắt lươn ở các đầm, ao, hoặc ruộng cạn nước.
 
Thời kỳ bắt lươn bằng ống trúm thường vào tháng 5 -10 tại các hồ, ao, đầm, kênh, mương, máng, sông ngòi…
 
Ống trúm thường được làm bằng một đoạn ống nứa lớn, một đầu vướng mắt, đầu kia có hom( hay vỉ) ngăn ở đầu. Trong ống ta để các loại mồi tanh để nhử lươn.
 
Trúm thường được đi đặt vào chiều tối. Sớm hôm sau, người ta sẽ đi thu. Có những ống thu được tới 4 – 5 con lươn. Cũng cần lưu ý, đôi khi trong ống trúm lại có cả rắn. Nếu là rắn nước thì không sao. Nhưng là rắn độc thì phải hết sức cẩn thận.
Thịt lươn có thành phần dinh dưỡng cao. Trong 100g thịt lươn gồm có 12,7g chất đạm, 25,6g chất béo tổng cộng (trong đó có 0,05g cholesterol) và 285 calo.
Ngoài ra, thịt lươn còn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng như vitamin A, B1, B6 hay chứa chất sắt, natri, kali, calci. So với các loại như hến, tôm đồng, cua đồng, thịt lươn là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nhất. Vì thế, thịt lươn luôn được chọn lựa là thức ăn bồi bổ cho người bệnh, người già và trẻ nhỏ.
Những lợi ích sức khỏe từ thịt lươn
Thịt lươn còn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng như vitamin A, B1, B6 hay chứa chất sắt, natri, kali, calci.
Theo Đông y, lươn có tác dụng bồi dưỡng khí huyết, tiêu trừ phong thấp, có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng, kiết lị, đau nhức xương sống, bệnh trĩ nội , phong thấp, bệnh huyết trắng của phụ nữ. Còn đối với trĩ ngoại thì cũng có một số phương pháp dân gian khác bạn có thể tìm hiểu thêm.
Tuy nhiên, thai phụ không nên ăn thịt lươn. Với đặc tính bổ dưỡng và sinh khí huyết, máu lươn có tác dụng tăng cường dương khí, giúp lưu thông máu huyết, trị được chứng khô miệng, đau nhức trong tai và tăng cường khả năng tình dục.
BÀI LIÊN QUAN
Không dùng thuốc tây, chữa khỏi bệnh trĩ nhờ 5 loại lá dễ kiếm
Bài thuốc chữa dứt bệnh trĩ từ cây rau sam và một số thảo dược
Chữa khỏi bệnh trĩ nặng bằng bài thuốc từ ba ba và quả dừa non
Dừa cạn: Thuốc quý trị bệnh trĩ vừa sắc uống vừa dùng đắp là khỏi
Tự chữa khỏi bệnh trĩ nặng chỉ bằng 3 loại thảo dược dễ kiếm
Thịt lươn chữa một số bệnh sau
1- Chữa bệnh tiêu chảy:
Nếu phân có đờm, nhớt và máu: nướng một con lươn nước ngọt sau khi bỏ phần gan và tạng phủ. Sau đó, rang với 10g đường vàng để tán thành bột. Uống bột với nước ấm ngày từ 3 đến 4 lần, mỗi lần từ 1 đến 2 muỗng cà phê.
2- Chữa bệnh phong thấp:
Nên ăn lươn hầm (um) chung với rau ngổ và sả.
3- Chữa bệnh trĩ :
Ăn thịt lươn nước ngọt hoặc lươn biển để giúp cầm máu và trị bệnh trĩ . Khi nấu lươn nên dùng nồi bằng đất để giảm bớt mùi tanh của lươn. Mổ lươn theo cách cổ truyền là không dùng dao mà dùng cật tre vót mỏng để tránh sự tương khắc giữa máu lươn và kim loại có thể gây tanh.
4- Chữa chứng bất lực:
Hầm lươn chung với hạt sen, hà thủ ô, nấm mèo hoặc nấm linh chi. Có thể cho thêm lá lốt.
5- Chữa chứng suy nhược:
Trường hợp bị suy nhược do lạm dụng tình dục, hãy nấu lươn biển chung với rượu chát cho đến khi cạn. Sau đó, nướng lươn đã nấu chín cả da lẫn xương, cuối cùng tán thành bột. Uống mỗi ngày từ 7 đến 10g chung với rượu tùy theo tình trạng suy nhược.
Bí quyết dân gian chữa bệnh trĩ bằng thịt lươn
Những món ăn bổ dưỡng từ thịt lươn
Ở Nam bộ, có nhiều cách chế biến lươn như xào lăn, xé phay, nấu lẩu… Nam bộ là vùng đất được thiên nhiên ban tặng nhiều chim trời cá nước. Trong bữa ăn hàng ngày của người dân Nam bộ có nhiều món ăn được chế biến từ lươn, rùa, rắn…
Món nào cũng ngon, nhưng đáng nhớ nhất là món gỏi lươn bắp chuối hột. Nhìn đĩa gỏi lươn thật hấp dẫn, có mùi thơm của đậu phộng rang, mùi nồng của rau thơm, vài cọng ớt màu đỏ cắt sợi chỉ.
– Món gỏi lươn, bắp chuối hột có vị chua, ngọt dịu, thơm mùi rau răm, thịt lươn vàng thơm là món dân dã khó quên. Món này nếu có thêm bánh tráng mè để xúc ăn càng thêm tuyệt.
Cháo lươn nấu với đậu xanh vừa ngon lại vừa bổ dưỡng, ăn vào lại mát da mát thịt, tinh thần sảng khoái, tăng cường sinh lực. Miền Nam vào khoảng tháng ba, tháng tư khí hậu nóng bức ăn món cháo lươn vừa ngon vừa mát càng tốt cho sức khỏe. Còn tại miền Bắc, món ăn nổi tiếng nhất có lẽ là miến lươn.
Cần biết khi ăn thịt lươn
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện Dinh dưỡng Quốc gia: “Trong thịt lươn có một loại ấu trùng ký sinh sống rất dai và chịu được nhiệt độ cao. Vì vậy, nếu chỉ xào qua trên lửa, những ấu trùng này sẽ còn sống và theo đường ăn uống đi vào ruột. Tuy nhiên, ăn thịt lươn như thế nào để cơ thể hấp thu hết thành phần dinh dưỡng?
Tốt nhất, nên chế biến bằng cách nấu chín, ninh nhừ hoặc hấp cách thủy… bảo đảm sao cho thịt lươn khi được dọn lên mâm đã được nấu chín kỹ.
Người tiêu dùng cũng lưu ý khi mua lươn ngoài chợ tuyệt đối không được mua lươn đã chết hoặc ươn về chế biến. Trong thịt lươn chứa rất nhiều protein, trong đó có hợp chất Histidine tốt cho cơ thể, nhưng khi lươn chết, hợp chất này bị ô nhiễm bởi vi khuẩn và có thể chuyển hóa thành chất độc Histamine.
Bình thường, cơ thể người có thể chịu đựng một hàm lượng chất độc này, nhưng nếu hàm lượng cao hoặc cơ thể yếu, mới bệnh xong hoặc trẻ em có sức đề kháng kém sẽ có nguy cơ bị ngộ độc rất cao”
***
Lươn (danh pháp hai phần: Monopterus albus) là một loài cá thuộc Họ Lươn (Synbranchidae).
Chiều dài thân trung bình khoảng 25–40 cm, mặc dù có cá thể dài tới 1 m. Thân hình trụ, da trần không vảy, thiếu vây chẵn, vây lưng nối liền với vây đuôi, vây hậu môn. Các vây không có gai, mang thoái hóa thành một lỗ phía dưới đầu. Đuôi vót nhọn. Lưng màu nâu, bụng màu trắng hay nâu nhạt. Miệng lớn, có thể kéo dài ra được, cả hai hàm đều có các răng nhỏ để ăn cá, giun, giáp xác cùng các động vật thủy sinh nhỏ khác vào ban đêm. Hai mắt rất nhỏ.
 
Giống như các loài khác trong bộ Lươn, chúng hô hấp nhờ các màng của khoang bụng và ruột, không có bong bóng.
M. albus là lưỡng tính. Tất cả các con non là cái. Khi chúng trưởng thành, một số biến thành con đực. Con đực có khả năng chuyển đổi giới tính, cho phép chúng bổ sung khi quần thể con cái thấp. Sự thay đổi giới tính thể mất đến một năm.
 
Sinh sản có thể xảy ra trong suốt cả năm. Trứng được đẻ trong tổ bong bóng nằm trong vùng nước nông. Các tổ bong bóng nổi trên bề mặt nước và không gắn liền với thảm thực vật thủy sinh. Con cái đẻ tới 1.000 trứng mỗi lần sinh sản. Đặc điểm này rất quan trọng khi xem xét kiểm soát của các loài xâm lấn.
M. albus là loài bản địa của Trung và Nam Mỹ, châu Phi, Australia và từ Ấn Độ tới miền đông châu Á. Tại Hoa Kỳ, người ta thông báo nó có tại các khu vực như Hawaii, Florida và Georgia.
 
Mặc dù nó có thể sống sót ở nhiệt độ dưới điểm đóng băng của nước (0 °C) hay vài tháng mà không có nhiều nước hoặc nước lợ/mặn; nhưng nói chung chỉ tìm thấy tại tầng đáy trong các khu vực nước ngọt và ấm áp, chẳng hạn như các ao nhiều bùn, đầm lầy, kênh mương và ruộng lúa.
Tiếng Việt ví những người có cặp mắt ti hí là “mắt lươn”, không những mắt nhỏ mà còn hàm ý xấu như trong câu:
 
Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cắp gái buôn chồng người.
Ca dao cũng có câu nhắc đến lươn:
 
Lươn ngắn mà chê trạch dài
Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
Lươn có giá trị thực phẩm cao, thịt lươn được chế biến thành nhiều món ăn ngon khác nhau. Ở Việt Nam lươn có thể được dùng làm nguyên liệu của các món ăn được ưa chuộng như: cháo lươn, miến lươn, lẩu lươn, chuối om lươn…Trước kia lươn chủ yếu chỉ được khai thác ngoài tự nhiên. Ngày nay, lươn được nuôi nhân tạo và trở thành một nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
trần minh hiền orlando ngày 29 tháng 9 năm 2014
Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s