NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ DẦU LỬA

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ DẦU LỬA

Crude – The Incredible Journey Of Oil https://www.youtube.com/watch?v=e44ydPIQGSc

Blacko – Le Temps est Compté (Clip Officiel) https://www.youtube.com/watch?v=7J6OrVvzjdY
Badoxa “Controla” [2014] By É-Karga Eventz https://www.youtube.com/watch?v=ixv6Wrow5SM
Band Aid 30 “Do They Know It’s Christmas?” 2014 (Deutsche Version) https://www.youtube.com/watch?v=O2-wMtxZvIQ
Band Aid 30 – Do They Know It’s Christmas? (2014) https://www.youtube.com/watch?v=-w7jyVHocTk
fhana「いつかの、いくつかのきみとのせかい」(TVアニメ『僕らはみんな河合荘』OPテーマ)MUSIC VIDEO https://www.youtube.com/watch?v=aIRAOr8WbXY
IU(아이유) _ YOU&I(너랑나) MV https://www.youtube.com/watch?v=f_iQRO5BdCM
Ben Haenow – Something I Need https://www.youtube.com/watch?v=zLBaaN2sqlc
Hozier – Take Me To Church https://www.youtube.com/watch?v=MYSVMgRr6pw
Rời Xa – Binz, It’s Lee, Khói [Video Lyric HD] https://www.youtube.com/watch?v=a3KJWHg5flU
Go Pro – AFV Assignment America – AFV https://www.youtube.com/watch?v=ilNS9qbQ_Yw
[Hài Kịch] Kiều Oanh Thích Cười 13 https://www.youtube.com/watch?v=RQthqacVCEg
Violin and guitar instrumental music compilation. Violin and guitar songs https://www.youtube.com/watch?v=9dhKZ3-UQsM
Kirsten Wicklund–the hill https://www.youtube.com/watch?v=cHZo30y_-40
NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ DẦU LỬA
trần minh hiền orlando ngày 24 tháng 12 năm 2014
Cuối năm 2014 với những tin tức vui buồn lẫn lộn, có 1 tin mà ai cũng quan tâm, đó là giá xăng tiếp tục giảm xuống làm cho người tiêu dùng rất thích. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu thêm về dầu lửa . Ngày nay dầu lửa ( oil) được sử dụng rộng rãi trong đời sống và đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng. Lý do thực sự của việc giá dầu giảm mạnh kỷ lục chưa từng thấy là 1 cuộc chiến tranh kinh tế, cuộc chiến tranh dầu lửa giữa Hoa Kỳ và khối OPEC, Iran, Nga và những nước sản xuất dầu lửa. Từ trước đến giờ Hoa kỳ giấu và bảo vệ  lượng dầu lửa khổng lồ của mình vì nhiều lý do ( hai lý do chính nhất là Hoa Kỳ muốn dùng nó cuối cùng khi cả thế giới đã khai thác hết dâu lửa và vì lý do muốn bảo vệ môi trường thiên nhiên) nhưng do sự căng thẳng của chính sách hiếu chiến của Nga ở Ukraine và Âu Châu, cũng như sự xung đột với Iran và khối OPEC, cho nên Hoa Kỳ thay đổi chính sách và khai thác ngay trữ lượng dầu lửa khổng lồ của mình bằng kỹ thuật tân tiến nhất hiện này là fracking ( công nghệ chế biến dầu trực tiếp từ đá phiến sét, 1 kỹ thuật mới, tân tiến mà chưa được sử dụng bao giờ, đem lại sự khai thác, chế biến nhanh chóng, sạch hơn, rẻ tiền hơn …)
Thủy lực cắt phá (tiếng Anh: hydraulic fracturing, thường rút ngắn thành fracking) là kỹ thuật khai thác mỏ bằng cách dùng áp suất chất lỏng để làm nứt các tầng đá trong lòng đất. Đường nứt sẽ chạy theo mạch đất thiên nhiên, khai mở những khoáng chất vốn bị nén chặt trong lòng đất.Bằng cách bơm chất lỏng trộn với một số hóa chất và cát dưới áp suất cao vào giếng mỏ làm nứt vỡ tầng đá, một số địa chất như khí đốt và dầu mỏ có thể bơm lên được.
Kỹ thuật thủy lực cắt phá thường được dùng khai thác ở những vùng đá phiến dầu và khí đốt than để kích thích đất đá nhả và tăng lưu lượng khoáng chất. Thủy lực cắt phá còn có ưu điểm là có thể đâm ngang trong lòng đất thay vì bị hạn chế theo chiều dọc.
Thủy lực cắt phá được dùng từ năm 1947 nhưng lúc đầu chỉ là thí nghiệm, đến năm 1949 mới áp dụng thương mại thành công. Tính đến năm 2012 có hơn 2,5 triệu vụ khoan mỏ trên thế giới dùng kỹ thuật này để khai thác dầu mỏ và khí đốt. Riêng ở Hoa Kỳ có hơn một triệu vụ.Tuy nhiên có nơi như Pháp thì lại ban luật cấm dùng kỹ thuật này.
Kỹ thuật thủy lực cắt phá hiện vẫn còn gây tranh cãi. Bên ủng hộ thì cho đây là động lực phát triển kinh tế bằng cách tăng hiệu lực khai thác mỏ và các chất hiđrôcacbon;  bên phản đối thì lo hậu quả tai hại môi sinh, ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm không khí, cạn kiệt nguồn nước ngọt, và còn có thể gây động đất cùng những tác động xấu đến sức khỏe con người.
Tác động kinh tế
Thủy lực cắt phá là một yếu tố lớn làm giảm giá dầu thô vào năm 2012 từ 115 USD vào mùa hè xuống khoảng 70 USD vào mùa đông.
Sự khai thác mạnh mẽ dầu lửa ở Hoa Kỳ đã thay đổi nhiều khu nghèo nàn trở thành giàu có sầm uất ở North Dakota, Texas. Và làm cho giá dầu thô và giá xăng giảm mạnh . Và đây cũng là 1 bài toán, 1 cuộc chiến mà Hoa Kỳ đang dùng để đánh Nga, các nước Ả Rập …
***
NHỮNG SỬ DỤNG ÐẦU TIÊN (thời văn minh Cổ đại)
Hình như ở miền Trung Ðông, những hydrocarbures được dùng đầu tiên. Theo Thánh kinh, đó là chất nhựa đường (asphalte hay bitume) mà NOÉ đã xảm thuyền (calfater) cho cái tàu của ông (arche) và mẹ của MOÏSE đã phết vô nôi của con trai bà trước khi thả trên sông NIL.
Những người Ai Cập cũng dùng để bảm đảm sự bảo quản những xác ướp (momie) của họ.
Bên Âu Châu, sử dụng hydrocarbure xưa nhất là để cho dầu mỡ vào bánh xe của những xe bò, nhất là dùng trong y học. Dầu hay bitume (là loại đá màu xám đen hay nâu, có tính nhờn mà người ta trộn với đá vôi bột để làm asphalte nhân tạo) thực ra dùng để điều chế thuốc dẻo để bôi cho chứng nhức lưng, vết thương và  sưng phồng.
CHƯNG CẤT: (Distillation)
Nguồn gốc của phương pháp chưng cất thường được khám phá ra một cách tình cờ cho những lần đầu tiên nhất của lịch sử dầu hỏa bị lẫn lộn với những lần sử dụng đầu tiên.
Năm 1556, nhà khoáng vật học (minéralogiste) Ðức Georg BAUER, thường gọi là GEORGIUS AGRICOLA, trong tác phẩm DE RE METALLICA chủa ông, chỉ cách thức biến chế dầu lửa thô thành dầu hắc (goudron) để sơn phết.
Năm 1650, sự chưng cất dầu hỏa thô (pétrole brut) đến độ sôi, cho phép ta thu được thuốc đánh bóng (vernis), sáp, mỡ, dầu thắp đèn.
XĂNG (1855)
Năm 1855, người Mỹ B. SILLIMAN, khai thác trên những nghiên cứu về dầu hỏa do những hóa học gia Âu Châu, đã tìm ra một loạt nghiên cứu về chưng cất. Ông đã thành công và được một số sản phẩm: dầu hắc, dầu nhờn (huile lubrifiante), naphta (hỗn hợp hydrocarbure), những dung môi (solvant) cho sơn và xăng (như một hóa chất để tẩy sạch (détachant) lúc bấy giờ được xem như một chất thứ yếu (produit mineur).
DẦU ÐỐT ÐÈN (1860)
Ngoài nước Trung Hoa ra, sự dùng dầu hỏa như một chất để đốt sáng bắt đầu rất trễ, khi mà người ta thành công trong  sự chưng cất để lấy ra từ dầu thô ra một chất lỏng không màu, đốt cháy được (inflammable) và cho được ngọn lửa không phát ra mùi hôi: đó là dầu đốt (dầu hôi, dầu lửa pétrole lampant).
Tuy nhiên, dầu được dùng để dốt đèn thực sự ở Âu Châu vào năm 1860.
KÉROSÈNE (1860)
Cùng thời, Samuel KIER chưng cất dầu thô và bán  một phần của sự chưng cất này dưới tên KÉROSÈNE. Samuel KIER là người sáng chế ra “nhựa thơm Kier” (baume de Lier) mà ông bán cho các nhà thuốc tây tại New York tụ chưng cất chất lỏng đen lấy trên những làn nước: dầu thô (nappe d’eau)
Lịch sử giá dầu và toan tính của những “ông lớn”
Giá dầu tăng – giảm luôn ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình phát triển, giá cả hàng hoá, an ninh xã hội của bất cứ quốc gia nào. Lịch sử giá dầu phát triển ra sao và trong đó ngầm chứa những toan tính nào của những “ông lớn” ngành dầu mỏ? Giai đoạn hậu chiến tranh thế giới (1947 – 1971):
Từ năm 1948 đến cuối những năm 1957: Giai đoạn này chứng kiến sự ổn định của giá dầu. Giá dầu nằm trong khoảng từ 2,50 USD đến 3,00 USD. Giá dầu tăng từ 2,5 USD năm 1948 lên 3 USD năm 1957, nếu tính theo giá 2006, thì tương ứng là 17 USD và 18 USD.
Từ năm 1958 đến 1971: Giá dầu ổn định ở mức khoảng 3 USD/thùng (17 USD theo giá 2006).
Giai đoạn bất ổn 1972 – 1981:
Từ năm 1972-1974: Vào năm 1972, giá dầu thô vào khoảng 3USD/thùng và cuối năm 1974 đã tăng gấp 4 lần lên 12 USD. Cuộc chiến The Yom Kippur War bắt đầu bằng một cuộc tấn công vào Israel bởi Syria và Ai cập vào ngày 5/10/1973. Mỹ và nhiều nước phương tây khác đã ủng hộ Israel.
Từ năm 1975 đến 1978: giá dầu thế giới không biến động nhiều, giao động quanh mức từ 12,21 USD đến 13,55 USD. Khi tính cả lạm phát thì giá dầu thế giới trong giai đoạn này đã giảm nhẹ.
Từ 1979 đến 1981: Các sự kiện xảy ra ở Iran và Iraq năm 1979, 1980 đã dẫn tới một chu kỳ tăng giá tiếp theo của giá dầu. Cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran đã gây nên tổn thất khoảng 2 đến 2,5 triệu thùng/ngày từ 11/1978 đến 6/1979.
Có thời điểm quá trình sản xuất dầu gần như đình trệ. Trong khi cuộc cách mạng ở Iran có vẻ là nguyên nhân dẫn tới sự tăng cao kỷ lục của giá dầu sau chiến tranh thế giới thứ 2, thực tế thì tác động ko nhiều mà chủ yếu là các sự kiện sau đó. Ngay sau cuộc cách mạng, sản lượng đã tăng lên 4 triệu/ngày.
Vào tháng 9/1980, Iraq tấn công Iran đang ở thế yếu. Đến tháng 11/1980, sản lượng của cả 2 nước là chỉ khoảng 1 triệu thùng/ngày thấp hơn năm trước đó 6,5 triệu thùng/ngày. Do đó sản lượng dầu thế giới thấp hơn 10% so với năm 1979. Cuộc cách mạng hồi giáo Iran và chiến tranh Iran-Iraq làm cho giá dầu tăng hơn 2 lần từ mức 14USD năm 1978 lên 35 USD/thùngnăm1981.
Giai đoạn 1981 – 1998:
Giai đoạn này gắn liền với sự can thiệp của OPEC vào giá dầu.
Giá dầu tăng cao trong giai đoạn 1979-1981 đã khiến sản lượng bên ngoài OPEC tăng mạnh. Từ năm 1980 đến 1986, sản lượng các nhà cung cấp ngoài OPEC tăng 10 triệu thùng/ngày. OPEC đã phải đối mặt với nhu cầu giảm xuống và cung cao hơn từ các nguồn ngoài tổ chức này.
Từ năm 1982 đến 1986: OPEC cố gắng áp đặt hạn mức sản xuất đủ thấp để bình ổn giá. Những nỗ lực này đã gặp thất bại liên tiếp khi rất nhiều thành viên của OPEC sản xuất vượt quá hạn mức. Trong suốt khoảng thời gian này, Ả rập xê út đại diện như là nhà sản xuất cơ động nhất có thể cắt giảm sản lượng nhằm nỗ lực cản sự xuống dốc của giá dầu.
Vào tháng 8/1985, Ả rập xê út đã từ bỏ vai trò này. Họ gắn giá dầu với thị trường giao ngay và tăng sản lượng từ 2 triệu thùng/ngày lên 5 triệu thùng/ngày vào đầu năm 1986. Giá dầu giảm dưới 15USD/thùng (theo giá năm 2006 là 20 USD) vào giữa năm 1986.
Mặc dù giá dầu giảm nhưng doanh thu của Ả rập xê út vẫn không đổi do sản lượng tăng đã bù đắp giá giảm. Vào tháng 12/1986, giá dầu đứng ở mức 18 USD/thùng.
Từ năm 1987 đến 1998: Giá dầu giảm từ mức 18 USD đầu năm 1987 xuống mức dưới 15 USD đầu năm 1988. Giá dầu tăng mạnh từ năm 1988 đến 1990 (đạt trên 20 USD/thùng) do OPEC duy trì mức sản lượng thấp và sự bất ổn gắn với cuộc tấn công của Iraq vào Kuwait khởi nguồn cho cuộc chiến tranh vùng vịnh.
Thế giới và đặc biệt là các nước Trung Đông đã có quan điểm cứng rắn hơn với Saddam Hussein khi tấn công Kuwait hơn là khi tấn công Iran. Tuy nhiên từ sau năm 1990, do OPEC tăng sản lượng liên tục và nhất là sau cuộc chiến vùng vịnh giải phóng Kuwait, giá dầu bước vào giai đoạn giảm giá liên tục và ở mức gần 15 USD năm 1994.
Chu kỳ giá sau đó lại tăng lên. Nền kinh tế Hoa Kỳ lớn mạnh và khu vực Châu á Thái Bình Dương tăng trưởng mạnh. Từ năm 1990 đến năm 1997, mức tiêu thụ dầu thế giới tăng 6,2 triệu thùng/ngày.
Mức tiêu thụ của các nước châu Á đóng góp 300.000 thùng/ngày cho mức tăng thêm đó và góp phần làm cho giá dầu tăng trở lại và tăng mạnh vào năm 1997. Sản lượng giảm sút của Nga cũng góp phần vào sự tăng giá dầu. Giữa năm 1990 và 1996, sản lượng của Nga giảm trên 5 triệu thùng/ngày.
Sự tăng lên của giá dầu không kéo dài được lâu và kết thúc vào năm 1998 khi OPEC đã làm ngơ hoặc đánh giá thấp tác động của khủng hoảng kinh tế châu Á.
Vào tháng 12/1997, OPEC tăng hạn ngạch thêm 2.5 triệu thùng/ngày (10%) lên 27,5 thùng/ngày có hiệu lực từ ngày 1/1/1998. Sự phát triển nhanh của các nền KT châu Á đã bị chặn lại. Vào năm 1998, tiêu thụ dầu của châu Á Thái Bình Dương đã giảm lần đầu tiên từ năm.1982.
Giá dầu rơi vào vòng xoáy giảm giá khi mà mức tiêu thụ thấp hơn đi liền với mức sản lượng cao hơn từ OPEC. Trước tình hình đó, OPEC đã cắt giảm hạn ngạch 1,25 triệu thùng/ngày vào tháng 4 và tiếp 1,335 triệu thùng/ngày vào tháng 7. Giá tiếp tục giảm hết tháng 12/1998 và đứng ở mức 12 USD/thùng.
 Giai đoạn 1999 đến 2003:
Giá dầu lại tăng lại vào đầu năm 1999 khi OPEC tiếp tục cắt giảm sản lượng thêm 1,719 triệu thùng/ngày vào tháng 4. Tính từ đầu năm 1998 đến đầu giữa 1999, sản lượng của OPEC đã giảm 3 triệu thùng/ngày và đã khiến giá dầu tăng lên trên 25USD/thùng.
Với vấn đề Y2K và sự tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như thế giới, giá tiếp tục tăng vào năm 2000 và đạt mức 35 USD vào tháng 10/2000 (mức cao nhất tính từ năm 1981). Giữa tháng 4 và 10/2000, OPEC 3 lần tăng hạn ngạch với tổng số 3,2 triệu thùng/ngày nhưng ko đủ để ngăn đà lên giá dầu. Giá dầu bắt đầu giảm khi OPEC tăng sản lượng thêm 500.000 thùng/ngày bắt đầu từ 1/11/2000.
Vào năm 2001, nền kinh tế Hoa Kỳ yếu đi và sự gia tăng sản lượng của các nước ngoài OPEC đã gây áp lực giảm giá dầu. Trước tình hình đó, OPEC một lần nữa liên tiếp cắt giảm sản lượng và tính tới ngày 1/9/2001, OPEC đã cắt giảm 3,5 triệu thùng. Nếu không có cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001, sự cắt giảm này của OPEC có thể đủ để làm cân bằng thậm chí là đảo ngược xu thế.
Trước cuộc tấn công khủng bố giá dầu đã sụt giảm. Giá dầu giao ngay theo tiêu chuẩn của các nhà trung gian Tây Texas Hoa Kỳ đã giảm 35% vào giữa tháng 11. Trong điều kiện bình thường, sự giảm giá dầu ở mức độ đó sẽ dẫn tới một đợt cắt giảm sản lượng của OPEC nhưng với điều kiện chính trị không phù hợp, OPEC đã hoãn việc cắt giảm thêm đến tận tháng 1/2002.
Sau tháng 1/2002, OPEC cắt giảm tiếp 1,5 triệu thùng/ngày và các nước ngoài OPEC cũng tham gia việc cắt giảm sản lượng trong đó có cả Nga với mức cắt giảm cam kết là 462.500 thùng/ngày. Điều này đã đem lại kết quả mong muốn của OPEC khi mà giá dầu tăng lên mức 25USD/thùng vào tháng 3/2002.
Vào giữa năm 2002, các nước ngoài OPEC đã khôi phục lại mức sản lượng đã cắt giảm tuy nhiên giá vẫn tiếp tục tăng và dự trữ dầu của Hoa Kỳ đạt mức thấp nhất trong 20 năm.
Vào thời điểm cuối năm, dư cung không còn là vấn đề. Cuộc đình công tại Venezuela đã khiến cho sản lượng dầu nước này giảm mạnh. Trước khi cuộc đình công diễn ra, Venezuela chưa bao giờ có thể khôi phục lại mức sản lượng trước đó và đứng ở mức thấp hơn 900.000 thùng/ngày so với mức kỷ lục 3,5 triệu thùng/ngày.
OPEC tăng sản lượng thêm 2,8 triệu thùng/ngày vào tháng 1 và tháng 2/2003. Vào ngày 19/3/2003, khi mà sản lượng dầu của Venezuela bắt đầu được khôi phục, cuộc tấn công quân sự vào Iraq đã nổ ra. Trong khi đó, trữ lượng dầu ở Hoa Kỳ và các quốc gia OECD vẫn ở mức thấp. Với sự phát triển mạnh của kinh tế, nhu cầu dầu từ Hoa Kỳ và các nước châu Á đã tăng một cách chóng mặt.
Sự giảm sản lượng ở Iraq và Venezuela được bù đắp bởi việc tăng sản lượng ở các thành viên khác tuy nhiên vẫn khiến cho mức sản lượng dầu tiềm năng có khả năng sản xuất giảm xuống. Vào giữa năm 2002, sản lượng dầu tiềm năng là 6 triệu thùng/ngày và giữa năm 2003 đã giảm xuống dưới 2 triệu thùng
Giai đoạn 2004 đến nay:
Nhu cầu tiêu thụ dầu của thế giới giai đoạn này là rất lớn (trên 80 triệu thùng/ngày) là nguyên nhân chính dẫn tới việc giá dầu vượt quá khoảng giá 40-50 USD/thùng. Một vài yếu tố quan trọng khác dẫn tới sự tăng lên của giá dầu đó là sự suy yếu của đồng USD và sự phát triển liên tục và nhanh chóng của các nền kinh tế châu á đi liền với sự tiêu thụ dầu của các quốc gia này.
Các trận bão nhiệt đới năm 2005 đã gây nên tổn thất cho hệ thống lọc dầu của Hoa Kỳ và các nước khác, cộng với việc chuyển từ việc sử dụng hỗn hợp Ête, Butila và Metal sang sử dụng công nghệ ethanol cũng đóng góp vào sự tăng giá dầu.
Một trong những lý do quan trọng nhất dẫn tới sự tăng lên của giá dầu đó là mức dự trữ dầu ở Hoa Kỳ và các nước tiêu thụ dầu khác. Trước khi sử dụng khả năng sản xuất thặng dư thì dự trữ dầu vẫn là một công rất tốt dùng để dự đoán giá dầu trong ngắn hạn.
Tuy nhiên OPEC đã không công bố công khai trong một vài năm do chính sách liên quan tới việc quản lý dự trữ dầu thô quốc tế. Một lý do mà OPEC cắt giảm sản lượng vào tháng 11/2006 và 2/2007 đó là việc dự trữ dầu của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế .
Sự đột biến giá dầu thế giới có thể nói đạt mốc lịch sử nhất là 11/07/2008 khi giá dầu đạt đỉnh 147,27 $/thùng.
Và tác động đến nền kinh tế thế giới
Cơn sốc giá dầu thường có tác động giống nhau tới các nền kinh tế: làm giảm tốc độ phát triển kinh tế và thậm chí dẫn tới suy thoái khi mà sản lượng nền kinh tế tăng trưởng âm; Làm tăng tỷ lệ lạm phát. Các hành động kìm hãm giá dầu của các nước nhập khẩu như tăng thuế tiêu thụ dầu sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất dầu lớn hơn là cho chính phủ các nước này.
Theo tính toán của nhiều tổ chức thì nếu dầu tăng đều đặn trong một năm khoảng 10% sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của Hoa Kỳ và G7 khoảng 0,3-0,4% trong năm đó.
Rất nhiều cuộc suy thoái kinh tế trên thế giới khởi nguồn từ sự tăng giá của dầu:
Giai đoạn 1974-1975: Suy thoái kinh tế Hoa Kỳ và thế giới gây nên bởi sự tăng gấp 3 lần giá dầu sau cuộc chiến tranh Yom Kippur và sự cấm vận dầu liền theo đó.
Giai đoạn 1981-1982: Suy thoái kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu gây nên bởi sự tăng giá dầu sau cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran năm 1979.
Giai đoạn 1990-1991: Suy thoái kinh tế Hoa Kỳ một phần do giá dầu tăng cao sau cuộc tấn công của Iraq vào Kuwait màu hè năm 1990.
Năm 2001: Suy thoái kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu một phần do sự tăng giá mạnh của giá dầu vào năm 2000 sau khủng hoảng năng lượng ở California và căng thẳng ở Trung Đông.
Giá dầu tăng mạnh từ năm 2007 đến nay (đạt mức kỷ lục 139,12 USD/thùng vào ngày 6/6/2008 và mức 136 USD/thùng ngày 13/06/2008 và mức đỉnh lịch sử của mọi thời đại là ngày 11/07/2008 giá dầu đạt 147,27$/thùng) đã khiến sản xuất công nghiệp Mỹ chỉ tăng 2,7% trong tháng 5,6 so với mức 4,8% năm ngoái. Nhật bản con số này tương ứng là 0,6% và 8,3%.
Các nước như Brazil, Hàn Quốc và Singapore chứng kiến mức tăng từ 1-4% cuả ngành công nghiệp trong khi con số này cùng kỳ năm ngoái là từ 12 đến 22%. Với châu Âu, sản xuất công nghiệp giảm 0,1%. Anh và Mexico, hai nước xuất khẩu dầu, giảm tương ứng 1,9% và 4,7%.
Tất cả các nền kinh tế lớn ngoài Hoa Kỳ thuộc Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế OECD cùng với Mêxicô chiếm 13,7% kim ngạch xuất khẩu của Mỹ. Các chỉ số tiêu biểu của các nền kinh tế OECD tính trong xu hướng 6 tháng đã tăng trưởng 7,5% vào đầu năm 2004, trong khi đó tháng 4/2008, các chỉ số này giảm 0,5%.
Như vậy rõ ràng giá dầu tăng cao đã ảnh hưởng tới rất nhiều nền kinh tế, làm giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp. Và các ngành công nghiệp đã có cơ chế tự điều chỉnh bằng việc giảm sản lượng và do đó giảm nhu cầu dầu.
Về phía cầu, khi cầu tăng lên, gần nhất là giai đoạn hồi phục kinh tế toàn cầu 2003-2004 sẽ dẫn tới sự tăng mạnh của giá dầu. Cung dầu là tương đối không co giãn trong ngắn hạn, trừ khi OPEC dư thừa công suất sản xuất rất lớn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tăng lên.
Phản ứng phía cung phụ thuộc một phần vào quyết định sản lượng của OPEC: Mặc dù một vài quyết định của OPEC xuất phát từ những yếu tố chính trị (như trường hợp giá dầu tăng gấp 3 lần năm 1973 và sự cấm vận dầu); OPEC luôn nhận thức được rằng sự tăng lên của giá dầu sẽ đẩy nền kinh tế Hoa Kỳ và thế giới vào khủng hoảng và điều này sẽ quay ngược trở lại ảnh hưởng tới họ nếu như cuộc khủng hoảng dẫn tới sự giảm mạnh của giá dầu.
Các thành viên chính của OPEC với trữ lượng lớn có động cơ khuyến khích các nước nhập khẩu dầu không đầu tư quá nhiều vào sản xuất năng lượng vì điều này sẽ dẫn tới sự giảm phụ thuộc của các nước này vào dầu mỏ.
OPEC thường có hành động nhằm kiểm soát nguồn cung nhằm tránh sự tăng giá quá mức và lâu dài vì điều này sẽ quay trở lại ảnh hưởng xấu tới OPEC trong trung hạn, và hiện tại, công suất sản xuất dư thừa không quá lớn giữa các nước thành viên OPEC đã hạn chế khả năng kiểm soát giá.
Duy trì một liên minh kinh tế gắn kết là một điều khó khăn. Giá dầu tăng cao thúc đẩy sản xuất ngoài liên minh đồng thời giảm cầu. Mỗi thành viên của liên minh đều có động cơ để gian dối. Các thành viên lớn của liên minh sẽ không muốn cắt giảm sản lượng và chứng kiến thị phần của mình giảm sút nếu như họ cân bằng phần tăng thêm ngầm của các thành viên khác.
Tuy nhiên, giá dầu ngày càng không thể kiểm soát bởi hành động của tất cả các thành viên, mà bởi Ả rập xê út (sau đó là Tiểu Vương Quốc Ả rập Thống nhất). Hầu hết các nước thành viên OPEC khác sản xuất hết công suất và thường vượt qúa hạn ngạch quy định. Ả rập Xê út là nước duy nhất sản xuất thấp hơn nhiểu công suất thực tế
Vũ khí dầu mỏ của Nga, vũ khí bí mật của Hoa Kỳ
Vũ khí dầu mỏ của Nga
Chúng ta vốn quen với những cách nói “nếu Nga cắt khí đốt, châu Âu sẽ chết rét”, “Nga dọa cắt khí đốt cung cấp cho châu Âu vào thời điểm mùa đông đang đến gần…” Điều đó thông thường là đúng: Châu Âu năm 2012 mua của Nga 24% tổng lượng khí đốt tiêu thụ .
“Vũ khí dầu mỏ và khí đốt” như thế đã trở thành vũ khí đối ngoại quen thuộc thường được Nga sử dụng khi có những bất đồng với châu Âu, nhất là trong một số sự kiện liên quan đến an ninh khu vực như cuộc xung đột Nga – Gruzia (2008), với tình hình chính trị và khả năng gia nhập EU và NATO của nước láng giềng UKraine…
Năm 2014, tưởng chừng sau khi sáp nhập bán đảo Crimea, “vũ khí dầu mỏ và khí đốt” cũng sẽ được Nga vận dụng hữu hiệu, nhưng lần này không chỉ bất ngờ với Nga mà với toàn thế giới, chính vũ khí ấy dường như lại quay lại chống lại nước Nga.
Nước Nga vốn xây dựng ngân sách cho giai đoạn ba năm tiếp theo: 2015 – 2017 với cơ sở giá dầu 100 đôla Mỹ một thùng. Nhưng giá dầu liên tiếp giảm trong thời gian nửa cuối năm 2014, nhất là sau Hội nghị của Hiệp hội các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cuối tháng 11/2014 thống nhất duy trì sản lượng và do đó, tiếp tục “ghìm” giá dầu, làm cho giá dầu thô đã giảm tới mức dưới 70 đôla Mỹ một thùng. Người ta tin rằng, chiến tranh đã thực sự nổ ra, một bên là Hoa Kỳ cùng Arab Saudi, và bên kia là Nga và Iran.
Cuộc chiến tranh thực, chính là cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, một “cuộc chiến ủy nhiệm” được Hoa Kỳ tiến hành chống Iran; còn cuộc chiến giá dầu, là chống cả hai. Lịch sử dường như đang lặp lại – cuối thập niên 1980 theo yêu cầu của tổng thống George W. Bush (Bush “cha”), Arab Saudi cũng cùng với Hoa Kỳ “ghìm” giá dầu xuống mức thấp. Ngân sách Liên Xô thâm hụt, tổng thống (đầu tiên và cuối cùng) của Liên Xô Mikhail X. Gorbachev đang tiến hành hàng loạt các đàm phán quan trọng với phương Tây còn phải chấp nhận việc đi tìm các khoản vay và viện trợ, đưa tới sự suy yếu rõ rệt về vị thế chính trị trên trường quốc tế. Tình hình sản xuất dầu ở Libya dần đi vào ổn định trở lại cũng góp phần làm giảm giá dầu thế giới.
“Vũ khí bí mật” của Hoa Kỳ
Nhưng người ta còn nói nhiều đến việc ngay trong năm 2014 này, Hoa Kỳ vươn lên trở thành nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới. Vốn dĩ Hoa Kỳ đã là nước có trữ lượng dầu và khí tự nhiên thuộc loại “có máu mặt”, nhưng theo quan điểm phát triển không khai thác tài nguyên thiên nhiên, nên Hoa Kỳ tập trung vào nhập khẩu các nhiên liệu hóa thạch này.
Năm nay cũng là năm người ta nói nhiều đến việc Hoa Kỳ trong 5 năm vừa qua, âm thầm phát triển thành công công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến sét – vốn được coi là một hoạt động sản xuất không hiệu quả, giá thành cao, đòi hỏi công nghệ phức tạp và tốn kém về xử lý môi trường… Hoa Kỳ trong vòng sáu năm vừa qua, đã tăng sản lượng dầu mỏ của mình lên tới 70%. Về phía Arab Saudi, họ nhìn thấy ở một giá dầu thấp trong khoảng 70 – 80 đôla, là sự bất lợi lớn cho các kẻ thù của mình: Iran, Syria, Sudan.
 Hoa Kỳ do làm chủ được công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến sét, đã tung ra một “vũ khí bí mật” hoàn toàn có khả năng đẩy hai nền kinh tế Nga và Iran tới bờ vực của sự sụp đổ.
trần minh hiền orlando ngày 24 tháng 12 năm 2014
Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s