ĐỌC BA QUYỂN SÁCH CỦA LÊ QUÝ ĐÔN

ĐỌC BA QUYỂN SÁCH CỦA LÊ QUÝ ĐÔN

http://hientran2016.wordpress.com
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
THUYẾT DUNG HÒA http://hientran1970.blogspot.com/2014/01/thuyet-dung-hoa.html
THUYẾT DUNG HÒA https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2014/01/15/thuyet-dung-hoa/
TƯƠNG LAI VIỆT NAM http://hientran1970.blogspot.com/2014/01/tuong-lai-viet-nam.html
TƯƠNG LAI VIỆT NAM https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2014/01/15/tuong-lai-viet-nam/
SÁCH DẠY CON THẾ KỶ 21 http://hientran1970.blogspot.com/2015/09/sach-day-con-ky-21.html
SÁCH DẠY CON THẾ KỶ 21 https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2015/09/03/sach-day-con-the-ky-21/


ĐỌC BA QUYỂN SÁCH CỦA LÊ QUÝ ĐÔN
Trần Minh Hiền Orlando ngày 26 tháng 1 năm 2016
Tôi đọc ba cuốn sách của Lê Quý Đôn : Đại Việt Thông Sử, Phủ Biên Tạp Lục và Kiến Văn Tiểu Lục. Ba bộ sách quý, rất có gá trị nghiên cứu, lịch sử, văn hoá … của Việt Nam chúng ta thời xưa.
1/ Cuốn Đại Việt Thông Sử được Ngô Thế Long dịch và Văn Tân hiệu đính. Sách chép về lịch sử Việt Nam từ thời Lê Lợi khởi nghĩa đến lúc lên ngôi vua là Lê Thái Tổ đến thời Mạc Đăng Dung và những người con nối ngôi đến khi bị nhà Lê đoạt lại ngai vàng. Sách cũng chép về các hoàng hậu và các nhân vật quan trọng ảnh hưởng đến thời cuộc lúc bấy giờ .
2/Sách Phủ Biên Tạp Lục ghi chi tiết những địa lý, phong tục kinh tế … của nước Việt thời Lê Quý Đôn, trước và đương thời lúc đó. Sách cũng chép về các nhân tài thơ văn như Nguyễn Cư Trinh. Đây là cuốn sách giá trị nghiên cứu để cho đời sau. Trong phần nói về Khánh Hoà xưa có đoạn như sau:
Về phủ Bình-khang, có kho Hội-an chứa thóc thuế điền tô của hai huyện Quảng-phúc, Tân-định và các thuộc Hà-bá cùng số tiền thuế sai dư, tiết liệu, cung đốn, điền mẫu, điền-trang, đất làm muối, đất bãi, các thuế ấy tải đến. Có một viên đề-lĩnh trông coi.
Về phủ Diên-khánh, có kho Phúc-an chứa thóc điền tô của ba huyện Phúc-điền, Bình-xương, Hoa-châu, hai thuộc Hà-bá, Tân-an, cùng số tiền các thứ thuế sai dư, tiết liệu, cung đốn, điền mẫu, hương vị, sa bồi các tiền ấy tải đến. Có viên Ký-lục và viên Tu-bá ở dinh Bình-khang trông nom.
Về phủ Bình-khang :

Đò Quán-lô đến đò Hòn-khói thuế 38 quan 6 mạch.

Tuần ty Tắc-cu cửa Nhu thuế 107 quan 8 mạch.

Tuần ty Bình-khang thuế 155 quan 9 mạch.

Đèo Thạch-vọng thuế 156 quan 2 mạch.

Chợ Tân-an thuế 31 quan 4 mạch.

Chợ An-lương thuế 31 quan 2 mạch.

Chợ Man-giả thuế 163 quan.

Chợ dinh Bình-khang thuế 166 quan 2 mạch

Tuần ty Hòn-khói thuế 91 quan.

Đò cửa Bình-khang  và dinh Bình-khang thuế 62 quan.

Đò Quán Cát thuế 50 quan 5 mạch.

Về phủ Diên-khánh :

Chợ dinh Nha-trang thuế 66 quan 6 mạch.

Chợ Vinh-an thuế 52 quan 8 mạch.

Chợ Cam-ranh thuế 105 quan 3 mạch.

Chợ Phú-vang và đo Xuân-bội thuế 376 mạch.

Tuần ty Cù-huân và đò Còn … thuế 206 quan 5 mạch.

Chợ và đò Phú-khang thuế ……
3/ Sách Kiến Văn Tiểu Lục gồm 12 phần (cũng tức 12 quyển) là:
1. Châm cảnh
2. Thể lệ thượng
3. Thể lệ hạ
4. Thiên chương
5. Tài phẩm
6. Phong vực thượng
7. Phong vực trung
8. Phong vực hạ
9. Thiền dật
10. Linh tích
11. Phương thuật
12. Tùng đàm
Nhưng Kiến văn tiểu lục mà chúng ta hiện có, chỉ có tám phần là:
1. Châm cảnh: Ghi chép một số những câu triết ngôn và hành vi của một số nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam nhằm khuyên răn, giáo dục người đương thời.
2. Thể lệ thượng: Ghi chép các lễ văn, chế độ của các triều đại Lý, Trần, Lê.
3. Thiên chương: Ghi chép tên những nhân vật đã làm những bài bia, bài minh ở các chùa, quán, các triều Lý, Trần và giới thiệu, phê bình một số thơ văn.
4. Tài phẩm: Ghi chép về tài ba, phẩm hạnh, tiết tháo, văn học… của một số nhân vật lịch sử.
5. Phong vực: Ghi chép về núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường sá… các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang.
6. Thiền dật: Ghi chép về các nhà sư Việt Nam từ thời Bắc thuộc cho đến thời Hậu Lê.
7. Linh tích: Ghi chép về các đền miếu thờ các thiên thần, nhân thần và hai mươi sáu chuyện nhỏ.
8. Tùng đàm: Ngoài việc đính chính một số câu đối, câu văn của người Trung Quốc, có chép mười bốn mẩu chuyện về các nhân vật triều Trần, triều Lê…
Như vậy là Kiến văn tiểu lục thực tế đã thiếu hẳn mất bốn phần là phần Thể lệ hạ, phần Phong vực trung, phần Phong vực hạ và phần Phương thuật.
LỜI TỰA:
Khổng Phu Tử nói: “Cần nghe nhiều, nhưng để khuyết điều gì còn nghi ngờ, mà cẩn thận nói những điều nghe đã được thừa chắc chắn, thì ít khi bị lỗi lầm; cần biết nhiều, nhưng để khuyết việc gì chưa được vững vàng, mà cẩn thận làm những việc đã thừa tin tưởng, thì ít khi phải hối hận” (1). Mạnh Tử bàn về đạo thống, cũng nói: “Thánh hiền hoặc có người vì mắt thấy mà biết được đạo thống, hoặc có người tai nghe mà biết được đạo thống” (2). Xem như thế, thì căn bản lời nói, việc làm, then chốt sự học hỏi, có bao giờ lại không dựa vào sự biết rộng, nghe nhiều?
Này, ghi chép lời dạy hay, lời nói phải của cổ nhân, dùng để giữ mình thì có thể được yên thân, suy ra công việc thì có thể giúp đời; nghiên cứu mưu mô cao, phép tắc tốt của cổ nhân, khi gặp người hỏi, thì có thể ứng đối được đầy đủ, gặp công việc, có thể dựa vào đấy mà châm chước; sách vở văn chương của cổ nhân không phải một loại, xem vào đấy có thể giúp tâm trí, gợi tính tình; tài đức sự nghiệp của cổ nhân không giống nhau, thuật truyện lại có thể sánh kịp người hiền, học lấy lẽ phải, sau nữa, đến như bờ cõi, núi sông, tiên Phật, thần quái, phương thuật, tạp thuyết, cũng đều có quan hệ đến cách vật trí tri, có giúp ích vào việc giữ vững lòng thành, thông suốt sự lý cả.
QUYỂN I
CHÂM CẢNH
(Khuyên răn)
Hồng Bình Tề nói: “Thiên cơ ở lúc nửa đêm đầu giờ Tý, nhân sự ở lúc canh năm sau giờ Sửu”. Bởi vì lúc ấy tư tưởng mới bắt đầu nảy nở, đều là cỗi gốc điều lành, bình tĩnh để nghĩ ngợi, xét lại việc đã qua, biết được lỗi lầm, khôi phục lại thiên tính, đều ở lúc này cả. Gà gáy thức dậy, mải miết làm điều lành, thì có thể tránh được lỗi lầm.
Vương Huy Chi (9) nhà Tấn thường nói: Đọc sách mà tìm được một nghĩa, cũng như được một thuyền hạt ngọc.
Hậu sinh huấn nói: Một chữ “khoa” (khoe khoang), làm bại hoại suốt đời người ta.
Mưu toan công việc mà khinh thường sơ suất, tất có sai lầm. Bốn chữ “cát”, “hung”, “hối”, “lận” (10), một chữ tốt mà ba chữ xấu, cho nên ở trên đời, người tốt có ít, người xấu tất nhiều. Bốn việc này đều phát sinh trong khi hành động, càng cần phải cẩn thận lắm.
Quân tử nghĩ đến điều lợi là lợi chung cho mọi người, tiểu nhân nghĩ đến điều lợi là lợi riêng cho bản thân.
Tai không nên nghe ngóng tội ác người khác, mắt không nên tò mò điều sở đoản người khác, miệng không nên bàn tán điều lỗi lầm người khác.
Muốn biết nguyên nhân kiếp trước, kinh nghiệm ngay vào sự hưởng thụ hiện tại, muốn biết nguyên nhân kiếp sau, kinh nghiệm ngay vào hành vi hiện tại.
Được nhiều người giúp đỡ, thì trong bụng thư thái mà công việc xong xuôi, lấy ý kiến riêng mình chống lại mọi người, thì trong bụng khó nhọc mà rước lấy thù oán.
Thân thể một người, ví như hình tượng một nước: lồng ngực xếp đặt không khác gì cung nhà, vị trí chi thể không khác gì nơi biên cảnh, phân phối thành trăm chi tiết không khác gì trăm con sông, khoảng giữa thớ da thịt không khác gì bốn đường giao thông, tinh thần cũng như vua chúa, huyết mạch cũng như bầy tôi, khí mạch cũng như nhân dân. Cho nên bậc chí thánh biết giữ mình, cũng như vua hiền biết trị nước. Yêu nhân dân thì nước được bình trị, yêu khí mạch thì mình được hoàn toàn.
Thang Mộc, nho sĩ nhà Minh nói: Người ta cần phải có anh khí (11), không nên có khách khí (12). Vì có anh khí thì có thể tự lập được vững chắc, có khách khí thì sinh ra tức giận tranh giành.
Lời dạy điển hình của tiền hiền, tôi được nghe nhiều và ghi thành tập nhỏ, nay chép ra đây để dùng làm vi, huyền (13).
– Lưu cái khôn khéo còn thừa không sử dụng hết để trả lại tạo hóa, lưu bổng lộc còn thừa không tiêu dùng hết để trả lại triều đình, lưu tài hóa còn thừa không dùng hết để trả lại bách tính, lưu phúc trạch còn thừa không hưởng thụ hết để trả lại con cháu.
– Hạng người chỉ biết ăn cho sướng mồm, no bụng, bậc thần tiên coi là hạng ăn thối nuốt tanh; hạng người nịnh hót kẻ giàu sang, bậc cao sĩ, ví như người mút mủ nhọt, liếm trôn trĩ. Xảo quyệt quá thì nhiều việc đáng lo, vụng về nhiều thì ít việc hối hận.
– Giữ đời sống bình thường không gì bằng tiêu dùng sẻn nhặt.
– Bồi dưỡng sinh lực không gì bằng ít dục tình.
– Sau khi uống rượu nên giữ gìn lời nói; đương lúc ăn nên ngăn ngừa lòng giận dỗi; nhịn những việc khó có thể nhịn được, hòa thuận với người không hòa thuận; ăn uống không có tiết độ là căn do mắc bệnh; tư tưởng không đúng đắn là nguồn gốc hại mình; bệnh tật từ miệng ăn vào; họa hoạn từ miệng nói ra; nhún mình có thể theo được mọi người, hiếu thắng tất gặp địch thủ; bủn xỉn quá tất phao phí lớn, tích trữ nhiều tất mất mát to; cẩn thận thì không lo, nhẫn nại thì không nhục; tĩnh dưỡng thì thường được yên, sẻn nhặt thì thường được đủ.
– Càng thu lượm lẽ phải thì càng đầy đủ, càng tế nhị tư tưởng thì càng rộng lớn, càng sâu dày bao nhiêu thì càng cao sang bấy nhiêu.
– Mọi việc không khắc trách ở người khác, thì dầu giá lạnh, lửa bỏng không rối loạn được lòng ta.
– Nói nhiều, nhiều việc hỏng, việc nhiều, phải nghĩ nhiều, giữ được giản dị thì trong lòng tự yên, biết được hạn định của mình, thì trong lòng tự đầy đủ.
– Không để tâm bới vẽ sự việc thì không có việc gì bận rộn trong lòng, cho nên trong lòng tĩnh mịch thì sinh sáng suốt, trong lòng náo động thì sinh tối tăm.
– Người lái buôn gian dối làm rối loạn thị trường, người nông phu lười biếng, làm hỏng cả ruộng đất, người độc phu tàn bạo làm nhiễu loạn cả nước, con ngựa ốm yếu làm nhơ nhuốc cả đàn.
– Lúc giàu không sẻn nhặt, lúc nghèo phải hối hận, lúc thấy việc không học hỏi, lúc thi thố mới hối hận, lúc say nói dại dột, lúc tỉnh phải hối hận, lúc bình thường không nghỉ ngơi, lúc có bệnh mới hối hận.
– Người khinh suất lời nói, tất nhiên lời nói kém phần tin chắc; người tâng bốc thạo tất nhiên chê bai cũng thạo, việc không nên làm hết, quyền thế không nên dùng hết, lời nói không nên nói hết, phúc trạch không nên hưởng hết.
– Người nào nói ta xấu, đấy là thầy ta; người nào khen ta hay, đấy là thù địch của ta.
– Chỗ bất cập của người khác, ta nên lượng tình mà tha thứ; chỗ thiếu sót của ta, ta cần dùng lý lẽ mà nghiêm trách.
– Dạy con phải dạy cho có nghề nghiệp thường, thì không đến nỗi lưu ly thất sở.
– Trong bụng cần phải từ bi (14), công việc cần phải phương tiện (15). Những sự tàn nhẫn khắc bạc, chỉ gây mối oán hận với người ngoài.
– Việc gì không can thiệp đến mình, dầu mảy may cũng không lý hội đến. Rượu ngon, sắc đẹp, của cải, tức khí, bốn điểm này cần phải kiêng kị, vì có thể làm hại đến bản thân.
Những điều trình bày ở trên đều là lời nói chí lý…
Trần Minh Hiền Orlando ngày 26 tháng 1 năm 2016


http://hientran2016.wordpress.com
http://www.facebook.com/pages/Tran-minh-hien/167914163328628?notif_t=page_new_likes
http://hientran1970.blogspot.com
THUYẾT DUNG HÒA http://hientran1970.blogspot.com/2014/01/thuyet-dung-hoa.html
THUYẾT DUNG HÒA https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2014/01/15/thuyet-dung-hoa/
TƯƠNG LAI VIỆT NAM http://hientran1970.blogspot.com/2014/01/tuong-lai-viet-nam.html
TƯƠNG LAI VIỆT NAM https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2014/01/15/tuong-lai-viet-nam/
SÁCH DẠY CON THẾ KỶ 21 http://hientran1970.blogspot.com/2015/09/sach-day-con-ky-21.html
SÁCH DẠY CON THẾ KỶ 21 https://hientrankhanhdo.wordpress.com/2015/09/03/sach-day-con-the-ky-21/

Advertisements

About hientrankhanhdo

writer, teacher
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s